CHƯƠNG 1 BỆNH HẠI CÂY LÚA NN 403-01 Giới thiệu: Chương học trình bày về các triệu chứng bệnh và biện pháp phòng trị bệnh hại lúa Mục tiêu: Kiến thức: + Trình bày được triệu chứng và tác nhân gây bệnh cây lúa Kỹ năng: + Chẩn đoán bệnh hại lúa + Áp dụng các biện pháp quản lý bệnh hại lúa Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có khả năng thực hiện chẩn đoán đúng các bệnh phổ biến hại cây lúa, 1. Các bệnh phổ biến hại lúa 1. Bệnh do nấm BỆNH ĐẠO ÔN * Triệu chứng Bệnh đạo ôn hay còn gọi là bệnh cháy lá. Bệnh có thể tấn công ở phiến lá, cổ lá, đốt thân, cổ gié, nhánh gié và hạt.
Trên lá, đốm bệnh điển hình trên có dạng hình thoi, hai đầu nhọn, tâm màu xám trắng, tùy theo tuổi cây, điều kiện thời tiết và tính nhiễm của giống có biểu hiện thay đổi về hình dạng và kích thước vết bệnh. Trên các giống nhiễm, vết bệnh ban đầu chỉ là đốm úng nước, nhỏ, màu xám xanh. Vết bệnh sau đó lan ra, tạo vết hình mắt én, hai đầu hơi nhọn, tâm xám trắng, viền nâu hay đỏ. Nếu trời ẩm và giống có tính nhiễm cao, vết bệnh sẽ có màu xám xanh do đài và bào tử nấm phát triển trên đó, viền nâu hẹp hay mờ có quầng màu vàng quanh vết bệnh.
Kích thước vết bệnh có thể dài đến 1,5 cm đôi khi liên kết với nhau tạo thành mãng làm lá bị cháy khô (Hình 1. Trên các giống kháng, đốm bệnh là những đốm nâu nhỏ từ bằng đầu kim đến 1-2mm, rất dễ nhầm lần với vết bệnh đốm nâu mới phát triển.1: Triệu chứng bệnh đạo ôn lá lúa. (a): Vết bệnh hình thoi, viền vàng; (b): Vết bệnh liên kết làm cháy lá Trên đốt thân, cổ gié, nhánh gié bị nhiễm sẽ có màu nâu sậm đến đen (Hình 1. Trời ẩm, vết bệnh ướt và có mốc xám xanh; trời khô, vết bệnh bị nhăn lại.
Bệnh làm gãy thân, gãy gié, làm hạt bị lem, lép gây giảm năng suất.2: Triệu chứng bệnh đạo ôn trên lúa. (a): cổ lá (b): đốt thân và (c): cổ bông 2 * Tác nhân Do nấm Pyricularia grisea (= P. oryzae) gây ra. Giai đoạn sinh sản hữu tính là nấm nang Magnaporthe grisea.
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh + Thời tiết: Ẩm độ và nhiệt độ có ảnh hưởng đến tính nhiễm của cây và sự phát triển của bệnh. Khi ẩm độ không khí càng cao, bệnh càng nghiêm trọng. Trời mát thích hợp cho sự phát triển vết bệnh ở giai đoạn đầu, nhưng giai đoạn sau thì sự phát triển của vết bệnh sẽ được kích thích nếu có một ít nắng. Chính vì vậy, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào những tháng sương mù nhiều và ban ngày có nắng, bệnh phát triển mạnh và có khả năng phát triển thành dịch nếu không được quan tâm.
+ Dinh dưỡng • Phân đạm: Nếu không có phân lân (P) và phân kali (K), càng bón nhiều phân đạm (N) thì bệnh càng nghiêm trọng. Ảnh hưởng của phân N cũng thay đổi theo tình trạng đất và thời tiết cũng như cách áp dụng. Bón quá thừa phân đạm, bón quá trễ hay bón khi nhiệt độ quá thấp trong giai đoạn phát triển đầu của lúa cũng có ảnh hưởng nhiều. Phun phân lên lá cũng làm bệnh phát triển mạnh hơn.
• Phân lân: Nếu bón phân lân vừa đủ cho nhu cầu phát triển của cây thì bệnh sẽ nhẹ, nhưng nếu bón vượt nhu cầu thì bệnh sẽ nặng, nhất là khi đã bón nhiều phân đạm. • Phân kali: Bón một lượng vừa đủ cho cây thì bệnh sẽ giảm, nhưng nếu bón quá nhiều, nhất là khi đã bón nhiều phân đạm, thì bệnh sẽ gia tăng. Nếu có bón thêm magnesium khi bón phân kali thì bệnh sẽ giảm. • Phân silica: Bón silica sẽ làm tăng tính chống chịu của cây, vì tế bào biểu bì được silic hóa nên ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh.
Khi cây hấp thụ nhiều silica sẽ giảm khả năng hấp thụ đạm, nên giảm tính nhiễm bệnh. * Phòng trị bệnh đạo ôn + Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch, sử dụng giống kháng, không gieo sạ quá dày, không cấy quá sâu làm cây phát triển kém, bệnh dễ tấn công và gây hại hơn. Bón phân cân đối theo nhu cầu của cây, không bón thừa đạm (bón ít hơn 100kgN/ 1000 m2). Thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện bệnh đạo ôn gây hại.
3 + Quản lý nước trên ruộng: Nếu ruộng khô ở giai đoạn mạ thì sau này cây sẽ dễ nhiễm bệnh. Trong quá trình phát triển, có giai đoạn rút nước vì vậy nên theo dõi ruộng trong giai đoạn này và và áp dụng biện pháp phòng bệnh hợp lý. + Sử dụng vi sinh vật: chủng vi sinh vật không gây bệnh trước hay cùng lúc với nấm Pirycularia thì gây ra tính kháng bệnh cháy lá lúa + Biện pháp kích thích tính kháng bệnh (induced resistance): Sử dụng chất kích thích sinh học: Hai sản phẩm Biobac-1 ĐHCT và Biosar-3 ĐHCT hay chất kích kháng SAR3-ĐHCT + Dùng thuốc hóa học: Phòng bệnh: Khi thấy thời tiết mát, mưa nhiều, ruộng lúa biểu hiện thừa đạm, lá xanh thẫm, giống lúa nhiễm bệnh đạo ôn nên phun phòng bằng một trong các loại thuốc sau: Beam 20WP; Trizole 20WP; Fuji-one 40EC; Bump 650WP; FILIA-525EC; Kabim 30EC. Đối với bệnh đạo ôn phải phun thuốc sớm khi lúa vừa nhiễm, trên lá có dấu chấm kim màu trắng khi nhìn ngược sáng hoặc chấm kim màu nâu là lúc phun hiệu qả nhất, theo phương pháp bốn đúng trong bảo vệ thực vật là: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách.
Các loại thuốc chuyên trị bệnh đạo ôn có thể sử dụng một trong các hoạt chất sau đây theo liều lượng khuyến cáo • Tricyclazole: Filia, Beam, Rocksai, Travil, Lash super, Forvil New, Vista… • Azoxystrobine: Amistar Top, Cure Gold, Trobin Top, TT Over. • Isoprothiolane: Fuan, Ninja, Kara One … • Fthalide: Rabcide … BỆNH ĐỐM VẰN (BỆNH KHÔ VẰN) * Triệu chứng Trên đồng ruộng bệnh thường xuất hiện khi lúa đạt 45 ngày tuổi trở về sau, thường nhất là khi lúa ở khoảng 60 ngày tuổi. Lúc đầu bệnh xuất hiện trên các bẹ lá gần mặt nước ruộng. Đốm có hình bầu dục, dài 1-3 cm, có màu xám trắng hay xám xanh, viền nâu.
Mô nhiễm bị hư, chỉ còn biểu bì ngoài của bẹ, nên vết bệnh lõm xuống, phần biểu bì còn lại áp sát vào bẹ lá bên trong. Kích thước và màu sắc đốm bệnh cũng thay đổi theo điều kiện môi trường, nếu trời ẩm khuẩn ty sẽ phát triển như tơ trắng trên bề mặt vết bệnh. Bệnh lan dần từ các bẹ dưới lên các bẹ trên, kể cả phiến lá. Nhiều đốm liên kết làm cho vùng bệnh có dạng vằn vện, bẹ và phiến bị cháy khô, khuẩn ty sẽ hình thành hạch nấm tròn, dẹt, có màu trắng khi 4 non, biến sang màu ngà, nâu và nâu sậm khi già; hạch có kích thước 1-3 mm.
Khi lá bệnh bị đổ, rơi chồng sang các lá khác, tơ nấm sẽ phát triển để lây lan làm cho các lá bệnh dính vào nhau. Trong giai đoạn lúa chưa khép tán, bệnh phát triển gần gốc và có khuynh hướng lây ngang, nhiễm sang các chồi lân cận; ở giai đọan trổ trở về sau khi tán lá khép kín, bệnh có khuynh hướng lan dọc nhanh chóng, làm cháy khô các lá bên trên, kể cả lá cờ. Khi bệnh phát triển lên đến lá cờ, năng suất có thể giảm 20-25%. Bệnh nặng toàn bộ cây lúa bị héo nâu, khô; hạt bị lép lửng; giảm năng suất.3: Triệu chứng bệnh đốm vằn trên lúa.
(a) Bệnh ở gốc; (b) Hạch nấm và tơ nấm (c) vết bệnh mới trên lá; (d) vết bệnh cũ * Tác nhân Bệnh do nấm Rhizoctonia solani. Nấm có giai đoạn sinh sản hữu tính bằng đảm bào tử và được gọi tên là Thanathephorus cucumeris (Frank) Don. Nấm gây bệnh khô vằn lưu tồn dưới dạng khuẩn ty và hạch nấm. Hạch nấm là những hạt nhỏ, màu trắng đến nâu nhạt.
Hạch nấm lưu tồn trong đất; trong điều kiện khô hạn, hạch nấm có thể sống đến 21 tháng; trong điều kiện ướt hạch nấm 5 có thể sống đến 8 tháng. Nấm bệnh lây lan qua đất, nước, tàn dư cây trồng bị bệnh. Khi làm đất hạch nấm nổi trên mặt nước, trôi theo nước lan truyền từ nơi này đến nơi khác. Hạch nấm tiếp xúc với bẹ lá, nẩy mầm và xâm nhiễm bẹ lá.
Nấm bệnh đốm vằn có thể sống trên 188 loài cây thuộc 32 họ trong đó có ít nhất 20 loài cỏ dại thuộc 11 họ. * Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh - Thời tiết: Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng khi nhiệt độ và ẩm độ cao. Nhiệt độ 25 - 300C, ẩm độ trên 95%. Bệnh gây hại quanh năm trên hầu hết các trà lúa: Đông xuân, Xuân hè, Hè thu, Thu Đông và lúa Mùa.
- Sử dụng giống lúa nhiễm khô vằn nặng: gieo trồng giống nhiễm bệnh nặng, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh gây hại nặng hơn. - Gieo sạ mật độ dày: gieo sạ dày làm cho ẩm độ không khí bên trong tán lúa tăng cao, góp phần làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn, hơn nữa mật độ dày còn tạo điều kiện cho bệnh lây lan dễ dàng nhanh chóng hơn. - Bón phân không hợp lý: bón phân không cân đối giữa tỷ lệ N:P:K, đặc biệt là thừa phân đạm làm cho lúa phát triển rậm rạp; ẩm độ không khí bên trong tán lúa tăng cao; thích hợp cho nấm bệnh phát sinh và lây lan. - Ruộng lúa có nhiều cỏ dại: các loài cỏ như lục bình, rau mác, lồng vực, mần trầu.vv là ký chủ phụ của bệnh đốm vằn.
Ngoài ra cỏ dại nhiều góp phần làm tăng ẩm độ không khí trong ruộng lúa, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh đốm vằn gây hại nặng hơn. - Thâm canh, tăng vụ: việc thâm canh, tăng vụ làm cho hạch nấm khô vằn lưu tồn trong đất ngày càng nhiều, bệnh phát sinh và gây hại ngày càng nặng. - Sự hiện diện hạch nấm trên ruộng: Mật số hạch nấm quyết định tỉ lệ nhiễm bệnh ban đầu, tính nhiễm của giống và điều kiện môi trường quyết định sự lây lan và phát triển sau đó. Lúa ở giai đoạn trổ, các chồi phát triển nhiều, gần nhau nên bệnh dễ lây lan; bẹ lá già không còn ôm chặt vào thân giúp nấm dễ phát triển len lõi vào mặt trong của bẹ lá.
* Phòng trị bệnh đốm vằn + Giống kháng: Chọn giống chống chịu với bệnh: Hiện nay chưa có giống kháng bệnh đốm vằn, tuy nhiên trong quá trình canh tác lúa nguời ta phát hiện thấy có những giống bị bệnh nặng nhưng cũng có những giống bị bệnh nhẹ hơn.