Mục tiêu của học phần: Trang bị cho học viên (các lớp hệ tại chức), sinh viên đào tạo chính quy các chuyên ngành Báo chí những kiến thức lý luận cơ bản về Báo in như khái niệm, các thuật ngữ liên quan đến báo in, những điều kiện hình thành và diện mạo của báo in hôm nay; những đặc điểm thế mạnh và hạn chế của báo in; quy trình xuất bản báo in, mô hình tòa soạn báo in; phân loại báo và tạp chí; bản sắc báo in; quảng cáo và phát hành báo in; tổ chức và quản lý cơ quan báo in… Môn học giúp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Báo in có thể vận dụng những kiến thức hiểu biết về chuyên ngành để ứng dụng hoạt động thực tiễn đúng hơn. Số đơn vị học trình: 3 đơn vị học trình (45 tiết). Trình độ: Dành cho các lớp Đại học Báo chí hệ chính quy hoặc tại chức, năm thứ 4, năm thứ 2 đối với các lớp Cử nhân chính quy hoặc tại chức học bằng Đại học thứ hai. Phân bổ thời gian: - Lên lớp: 20 tiết lý thuyết; - Xemina: 5 tiết; - Làm bài tập: 5 tiết; - Thực hành: 10 tiết; - Hoạt động khác: Tham quan một Tòa soạn Báo in: 5 tiết.
Điều kiện tiên quyết: Môn học dành cho học viên, sinh viên chuyên ngành Báo in khi bắt đầu phân ngành học. Để phục vụ tốt môn học cần phải có các tài liệu giáo khoa, các phương tiện kỹ thuật liên quan đến chuyên ngành Báo in. Mô tả vắn tắt nội dung: ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1 Bài 1: Những vấn đề chung về Báo in hiện đại; Bài 2: Các loại hình Báo in hiện đại; Bài 3: Quảng cáo và kinh doanh phát hành Báo in hiện đại; Bài 4: Ứng dụng công nghệ thông tin trong nghề Báo in hiện đại; Bài 5: Toàn cầu hóa truyền thông và những vấn đề đặt ra đối với Báo in trong xã hội hiện đại. Bài 6: Vai trò của báo in với PR Bài 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁO IN HIỆN ĐẠI (10 tiết lý thuyết + thảo luận, kiểm tra học trình) ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 2 I.
TÌM HIỂU CÁC KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ LIÊN QUAN 1. Truyền thông (Communication): Truyền thông là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian với sự tham dự của các yếu tố khác nhau, bao gồm những yếu tố như nguồn phát, thông điệp, kênh và đối tượng tiếp nhận. Nguồn phát là chủ thể của truyền thông, quyết định hiệu quả truyền thông.
Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Kênh truyền thông là sự thống nhất của các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải các thông điệp từ nguồn phát tới đối tượng tiếp nhận. Đối tượng tiếp nhận là những cá nhân hay bộ phận người trong xã hội tiếp nhận các thông điệp của các kênh truyền thông. Truyền thông đại chúng: Là hoạt động trao đổi thông điệp có tính phổ biến giữa nguồn phát với công chúng xã hội rộng rãi.
Cụ thể là công chúng tiếp nhận các thông điệp rộng rãi, nội dung thông điệp mang tính phổ biến, hiệu quả truyền thông đại chúng được xem từ các hiệu ứng và hành vi xã hội. Các loại hình truyền thông đại chúng: Là thuật ngữ chỉ sự phân chia các loại hình truyền thông có tính phổ biến trong xã hội hiện đại, trong đó bao gồm: sách, báo in, phát thanh, truyền hình, mạng internet, quảng cáo… Mỗi loại hình có tính chất đặc trưng riêng biệt trong lĩnh vực thông tin. Báo chí: Là thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình truyền thông đại chúng hiện đại mang tính định kỳ, thông tin thời sự các sự kiện, vấn đề đời sống xã hội. ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 3 Thuật ngữ báo chí được hiểu ở hai góc độ sau: - Theo khởi thủy, thuật ngữ báo chí được sử dụng để chỉ loại hình báo in.
- Theo sự phát triển của báo chí hiện đại, thuật ngữ báo chí còn dùng để chỉ các loại hình báo chí, bao gồm: báo in, phát thanh, truyền hình, báo ảnh, báo trực tuyến (báo mạng). Các loại hình báo chí: Là thuật ngữ chỉ sự phân chia báo chí với từng loại hình định kỳ trên cơ sở đặc trưng về nguồn phát, thông điệp, mã, kênh, đối tượng tiếp nhận… Đó là: Báo in, phát thanh, truyền hình, báo ảnh, báo trực tuyến (Báo mạng). Báo in: Là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin. Các loại hình báo in: Là thuật ngữ chỉ sự phân loại báo in theo chức năng, nhiệm vụ, đối tượng độc giả, lĩnh vực thông tin, hình thức trình bày… Thông thường phân theo hai loại hình là báo và tạp chí.
Trong mỗi loại hình đó lại được phân thành từng loại như: - Báo: Nhật báo, tuần báo, báo thưa kỳ, đặc san, nguyệt san, bán nguyệt san, chuyên san, chuyên đề, phụ san, nội san, tập san, phụ trương, bản tin… - Tạp chí: Các tạp chí lý luận chính trị - xã hội, các tạp chí lý luận chuyên ngành, các tạp chí phổ biến kiến thức, giải trí, các tạp chí đối ngoại… 8. Nhóm báo, tạp chí: Là thuật ngữ chỉ các loại báo in được phân theo nhóm thông tin theo lĩnh vực, phạm vi, đối tượng độc giả… như các tờ báo, tạp chí thông tin về chính trị - xã hội, thông tin chuyên ngành (kinh tế, pháp luật, giáo dục, văn học - nghệ thuật…), thông tin giải trí (thể thao, hài hước…), thông tin đối ngoại… ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 4 9. Cấp báo: Là thuật ngữ chỉ sự phân cấp báo theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động… Ở nước ta thường phân cấp báo theo hai cấp là trung ương và địa phương. Trong hai cấp này là các báo cấp ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội… II.
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BÁO IN Sự xuất hiện của loài người trên trái đất kèm theo nhiều nhu cầu để tồn tại và phát triển. Những nhu cầu tất yếu như: ăn, mặc, ở, sưởi ấm… Những nhu cầu lớn hơn như: công cụ lao động, săn bắn… đặc biệt nhu cầu giao tiếp trở nên quan trọng. Giao tiếp giúp các bầy người nguyên thủy xích lại gần nhau, hiểu nhau và cùng nhau tồn tại phát triển. Ban đầu chỉ là những tiếng hú gọi nhau và những động tác ra hiệu của những con người tiền sử vừa thoát khỏi loài vượn.
Tiếng nói - một công cụ giao tiếp quan trọng đầu tiên của con người: Không ai biết đích xác tiếng nói ra đời vào thời điểm cụ thể nào của xã hội loài người mà chỉ chứng minh rằng nhờ sự tiến hóa và đấu tranh và lao động để sinh tồn, nhờ bộ óc thông minh và cấu tạo cơ thể đặc biệt nên con người ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, trong đó có tiếng nói. Do đặc trưng địa lý, khí hậu, vùng miền khác nhau đã chi phối các kiểu mã thông điệp trong ngôn ngữ nói cũng khác nhau. Trên thế giới còn tồn tại hơn 3000 ngôn ngữ nói (4000 ngôn ngữ đã biến mất). Có thể khẳng định, tiếng nói là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất trong giao tiếp của xã hội loài người ngay từ buổi sơ khai đến thời kỳ hiện đại.
Ngôn ngữ nói là phương tiện thúc đẩy xã hội loài người phát triển theo từng thời kỳ của lịch sử. Tuy nhiên, tiếng nói chỉ là một dạng công cụ giao tiếp, nhìn ở dạng tích cực nó có nhiều ưu thế; nhưng bên cạnh đó nó cũng có nhiều hạn chế trong quá trình ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 5 phục vụ các nhu cầu giao tiếp, chẳng hạn như khả năng phát tán thông tin kém, chậm, không mang tính quảng bá, nhất là trong điều kiện xã hội còn lạc hậu. Để khắc phục những hạn chế của tiếng nói, con người đã biết vận dụng các yếu tố khác để hỗ trợ trong quá trình thông tin. Như trên đã đề cập, nhờ có những khả năng đặc biệt, trong đó khả năng ý thức và tự ý thức đã giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là việc tạo ra những công cụ hỗ trợ giao tiếp bằng tiếng nói như: - Dùng hình vẽ; - Dùng ánh sáng: như đốt lửa, củi mục…; - Dùng âm thanh: như gõ vào các vật cứng, thổi tù và, hú gọi, gõ mõ,…; - Dùng các ký hiệu khác: như bẻ cây, đánh dấu bằng đá, nước… 2.
Hình vẽ - công cụ quan trọng trong tiếng nói: Theo các tài liệu khảo cổ học, lịch sử mỹ thuật… cho thấy từ thời nguyên thủy, con người đã biết sử dụng hình vẽ để làm phương tiện thông tin trong săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồng trọt. Bằng chứng là trên các vách đá của những hang động nguyên thủy đã có những hình vẽ các cảnh săn bắn, hái lượm hoặc cảnh vui chơi, chim thú… Ở góc độ các nhà nghiên cứu khảo cổ hoặc mỹ thuật chỉ chú ý khai thác giá trị cổ vật hoặc nghệ thuật của các hình vẽ đó là công cụ giao tiếp. Với góc độ nghiên cứu về truyền thông, đặc biệt là khoa học báo chí thì tất cả những hình vẽ của loài người cổ xưa đều biểu đạt giá trị thông tin rất cao. Ví dụ 1: Một hình vẽ cảnh một con hươu lao từ vách núi cao xuống đã diễn tả được nội dung thông điệp: “Nơi đây có nhiều thú để săn bắt, đuổi chúng rơi xuống vách núi là biện pháp tốt nhất để bạn bắt được con mồi”.
Bằng quy ước thông tin này, chỉ cần nhìn hình vẽ, bất kỳ người nào cũng biết đây là nơi săn bắn tốt (hình vẽ). Ví dụ 2: Hoặc trong bức thư bằng hình vẽ của vua Ba Tư gửi cho vua nước Nga cổ lên án kẻ xâm lược thể hiện trên tấm da dê có hình vẽ một con chuột dũi, một con chim, một con nhái bén và năm mũi tên cắm vào năm vòng tròn (hình vẽ). ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 6 Bức thông điệp này biểu thị cho thông tin lời là: “Liệu các ngươi có bay được như con chim, chui rúc được như con chuột dũi, bơi lặn được như nhái không? Nếu không, các ngươi không tài nào thoát khỏi những mũi tên bao giờ cũng trúng đích của ta”. Những hình vẽ đơn sơ đã biểu thị những thông tin rõ ràng, dễ hiểu và có tác dụng tốt kết hợp với ngôn ngữ nói trong giao tiếp.
Tuy nhiên, cũng như ngôn ngữ nói, không phải trong điều kiện nào hình vẽ cũng mang lại hiệu quả thông tin một cách tốt nhất, do vậy, nó vẫn chỉ là một thứ công cụ hỗ trợ giao tiếp.