Giáo trình An toàn điện, An toàn lao động: Nhập môn BHLĐ - ĐH Bách Khoa Đà Nẵng

Tài liệu học tập Giáo trình bài giảng an toàn điện an toàn lao động với nội dung cập nhật, phương pháp trình bày khoa học trong chuyên ngành

Chuyên ngành

An Toàn Điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Cơ Bản Về An Toàn Điện Và Bảo Hộ Lao Động

An toàn điện là một lĩnh vực quan trọng trong bảo hộ lao động, nhằm loại trừ các nguy hiểm từ điện lực phát sinh trong quá trình sản xuất. Mục đích của bảo hộ lao động là tạo điều kiện lao động an toàn, ngăn ngừa tai nạn lao độngbệnh nghề nghiệp. Công tác an toàn điện mang tính chất pháp lý, khoa học kỹ thuật và quần chúng, được thể chế hoá thành các luật lệ, tiêu chuẩn nghiêm chỉnh. Điều này bảo vệ yếu tố năng động quan trọng nhất - con người lao động - đồng thời tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng sản xuất.

1.1. Mục Đích Và Ý Nghĩa Của Bảo Hộ Lao Động

Bảo hộ lao động có mục đích loại trừ yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất, tạo điều kiện làm việc thuận lợi. Công tác này ngăn ngừa tai nạnbệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khỏe người lao động. Ngoài ý nghĩa kinh tế - tăng năng suất, công tác bảo hộ lao động còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, mang lại hạnh phúc và an tâm cho mọi người lao động và gia đình họ.

1.2. Ba Tính Chất Chủ Yếu Của An Toàn Điện

An toàn điện sở hữu ba tính chất: tính pháp lý được thể chế hoá thành luật lệ, chính sách; tính khoa học kỹ thuật dựa trên cơ sở khoa học để loại trừ nguy hiểm; tính quần chúng liên quan trực tiếp đến người lao động. Ba tính chất này hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên hệ thống bảo hộ lao động toàn diện và hiệu quả.

II. Điều Kiện Lao Động Và Các Yếu Tố Nguy Hiểm Liên Quan

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội được biểu hiện qua công cụ, phương tiện lao động, môi trường làm việc. Những yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người lao động. Trong các điều kiện lao động cụ thể, luôn xuất hiện các yếu tố nguy hiểm và có hại như dòng điện, chất nổ, phóng xạ. Các yếu tố vật lý gồm nhiệt độ, tiếng ồn, rung động cũng gây tổn hại. Những yếu tố này phụ thuộc vào trình độ sản xuất, quy trình công nghệ và môi trường lao động.

2.1. Các Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động Điện

Yếu tố nguy hiểm trong lao động điện bao gồm yếu tố vật lý như nhiệt độ cao từ thiết bị, tiếng ồn; yếu tố hoá học từ các chất độc; yếu tố sinh vật từ môi trường. Đặc biệt, dòng điện là yếu tố nguy hiểm nghiêm trọng nhất, có khả năng gây bỏng, ngừng tim, tử vong nếu không được kiểm soát.

2.2. Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Làm Việc Đến Sức Khỏe

Điều kiện làm việc có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người lao động. Không gian chật hẹp, thiếu vệ sinh, tư thế lao động bất lợi là những yếu tố bất lợi gây suy yếu dần dần. Môi trường làm việc khắc nghiệt, độc hại kết hợp với các yếu tố nguy hiểm khác làm tăng nguy cơ tai nạn lao độngbệnh nghề nghiệp.

III. Tai Nạn Lao Động Và Bệnh Nghề Nghiệp

Tai nạn lao động là sự cố không may xảy ra gắn liền với công việc, gây tổn thương cho người lao động hoặc tử vong. Tiêu chuẩn đặc trưng của tai nạn lao động là sự cố gây tổn thương từ bên ngoài, xảy ra đột ngột, không bình thường. Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại, suy yếu sức khỏe dần dần. Cả tai nạn lao độngbệnh nghề nghiệp đều là hậu quả của việc không tuân thủ tiêu chuẩn an toàn lao động và không loại trừ các yếu tố nguy hiểm.

3.1. Đặc Điểm Của Tai Nạn Lao Động Điện

Tai nạn lao động do điện có tính chất đặc biệt: xảy ra đột ngột, gây tổn thương nặng, thường dẫn đến tử vong hoặc vô hiệu lao động. Tai nạn điện có thể là nhiễm độc đột ngột từ dòng điện, bỏng, ngừng tim. Do tính khẩn cấp và nguy hiểm, an toàn điện đòi hỏi các biện pháp phòng chống hết sức kỹ lưỡng.

3.2. Bệnh Nghề Nghiệp Trong Lao Động Điện

Bệnh nghề nghiệp từ điều kiện lao động điện phát sinh dần dần qua thời gian. Những công nhân lao động điện dài hạn có nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp như rối loạn thần kinh, bệnh tim mạch. Khác với tai nạn lao động xảy ra đột ngột, bệnh nghề nghiệp là hậu quả của tác động lâu dài và cần được phòng chống bằng biện pháp bảo hộ lao động toàn diện.

IV. Các Biện Pháp An Toàn Điện Và Thực Hiện Bảo Hộ Lao Động

Biện pháp an toàn điện bao gồm biện pháp khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm. Tiêu chuẩn an toàn lao động quy định các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn bảo vệ phải tuân thủ. Để thực hiện bảo hộ lao động hiệu quả, cần: điều tra khảo sát điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng yếu tố nguy hiểm, đề ra giải pháp chống ô nhiễmgiải pháp đảm bảo an toàn. Công tác bảo hộ lao động phải được áp dụng ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức dưới hình thức luật pháp.

4.1. Các Biện Pháp Kỹ Thuật Và Tổ Chức

Biện pháp kỹ thuật trong an toàn điện bao gồm thiết kế an toàn, sử dụng thiết bị bảo vệ, cách điện, ti接địa. Biện pháp tổ chức gồm đào tạo nhân viên, lập kế hoạch bảo dưỡng, kiểm tra định kỳ. Cần loại trừ yếu tố nguy hiểm từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống điện.

4.2. Vai Trò Của Tiêu Chuẩn Và Luật Pháp Trong Bảo Hộ Lao Động

Tiêu chuẩn an toàn lao động được ban hành bởi Nhà nước, có tính bắt buộc. Các chế độ chính sách, quy phạm được thể chế hoá thành luật lệ nghiêm chỉnh. Tính pháp lý của bảo hộ lao động đảm bảo mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức và cá nhân phải tuân thủ, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho công tác an toàn điệnan toàn lao động.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Giáo trình An Toàn Điện Trang 1 CHƯƠNG MỘT NHẬP MÔN VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG 1. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) a. Mục đích, ý nghĩa của công tác BHLĐ Mục đích của BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình sản xuất; tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện để ngăn ngừa tai nạn lao độngvà bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.

Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là người lao động. Mặt khác, việc chăm lo sức khoẻ của người lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.mà công tác BHLĐ mang lại còn có ý nghĩa nhân đạo. Tính chất của công tác bảo hộ lao động BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần chúng. - BHLĐ mang tính chất pháp lý Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện.

Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước. - BHLĐ mang tính KHKT Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp. đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật.

Bộ môn Hệ thống điện - Khoa Điện - Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng Giáo trình An Toàn Điện Trang 2 - BHLĐ mang tính quần chúng BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người và trước hết là người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý, tính khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Điều kiện lao động và các yếu tố liên quan a.

Điều kiện lao động. Điều kiện lao động là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, trình công nghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên những điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người. Những công cụ và phương tiện lao động có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến người lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ,.

Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trường lao động rất đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của người lao động. Các yếu tố nguy hiểm và có hại Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại. Cụ thể là: Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi. Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ.

Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn. Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh. Các yếu tố tâm lý không thuật lợi. đều là những yếu tố nguy hiểm và có hại.

Bộ môn Hệ thống điện - Khoa Điện - Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng Giáo trình An Toàn Điện Trang 3 c. Tai nạn lao động Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của người lao động, hoặc gây tử vong. Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạn lao động. Những tiêu chuẩn đặc trưng cho tai nạn lao động là: Sự cố gây tổn thương và tác động từ bên ngoài.

Sự cố đột ngột. Sự cố không bình thường. Hoạt động an toàn d. Bệnh nghề nghiệp: Bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại đối với người lao động được goil là bệnh nghề nghiệp.

Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ một cách dần dần và lâu dài. Những nội dung chủ yếu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động a). Nội dung khoa học kỹ thuật. Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động.

Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học, sinh học .) đến khoa học kỹ thuật chuyên ngành và còn liên quan đến các ngành kinh tế, xã hội, tâm lý học .Những nội dung nghiên cứu chính của Khoa học bảo hộ lao động bao gồm những vấn đề: - Khoa học vệ sinh lao động (VSLĐ). VSLĐ là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại trong sản xuất đối với sức khoẻ người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng lao động cho người lao động. Nội dung của khoa học VSLĐ chủ yếu bao gồm : - Phát hiện, đo, đánh giá các điều kiện lao động xung quanh. - Nghiên cứu, đánh giá các tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động đến con người.

- Đề xuất các biện pháp bảo vệ cho người lao động. Bộ môn Hệ thống điện - Khoa Điện - Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng Giáo trình An Toàn Điện Trang 4 Để phòng bệnh nghề nghiệp cũng như tạo ra điều kiện tối ưu cho sức khoẻ và tình trạng lành mạnh cho người lao động chính là mục đích của vệ sinh lao động. Cơ sở kỹ thuật an toàn Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp, phương tiện, tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất đối với người lao động. Khoa học về các phương tiện bảo vệ người lao động Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân người lao động để sử dụng trong sản xuất nhằm chống lại những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện pháp về mặt kỹ thuật an toàn không thể loại trừ được chúng.

Ngày nay các phương tiện bảo vệ cá nhân như mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống nóng, quần áo kháng áp, các loại bao tay, giày, ủng cách điện. là những phương tiện thiết yếu trong lao động. Ecgônômi với an toàn sức khoẻ lao động Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẩu, tâm lý, sinh lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con người. Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều khiển nhờ vào việc thiết kế, tuyển chọn và huấn luyện.

Ecgônômi tập trung vào việc tối ưu hoá môi trường xung quanh thích hợp với con người và sự thích nghi của con người với điều kiện môi trường. Ecgônômi coi cả hai yếu tố bảo vệ sức khoẻ ngưòi lao động và năng suất lao động quan trọng như nhau. Trong Ecgônômi người ta thường nhấn mạnh tới khái niệm nhân trắc học Ecgônômi tức là quan tâm tới sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học khi nhập khẩu hay chuyển giao công nghệ của nước ngoài. b) Nội dung xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động.

Sự phát triển bền vững Phát triển bền vững là cách phát triển “thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau” Phát triển bền vững có thể được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời 4 lĩnh vực: kinh tế, nhân văn, môi trường và kỹ thuật. Luật pháp,chế độ chính sách bảo hộ lao động 1. Hệ thống luật pháp chế độ chính sách BHLĐ của Việt nam Đảng và nhà nước Việt Nam ta nhất là trong công cuộc đổi mới luôn luôn Bộ môn Hệ thống điện - Khoa Điện - Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng Giáo trình An Toàn Điện Trang 5 quan tâm đến người lao động nói chung và công tác BHLĐ nói riêng. Đến nay chúng ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật chế độ chính sách BHLĐ tương đối đầy đủ.

Hệ thống pháp luật BHLĐ gồm 3 phần: Phần I: Bộ luật lao động và các luật khác có liên quan đến ATVSLĐ. Phần II: Nghị định 06/CP và các nghị định khác liên quan đến ATVSLĐ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ