phần mở đầu và kết luận, luận văn này gồm 3 chƣơng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 là tổng quan về đề tài. Trong chƣơng 1, dựa trên những tài liệu tham khảo, những công trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ giới thiệuvề vai trò của văn hóa trong việc dạy và học ngoại ngữ; phân tích sâu về những khái niệm nhƣ: sự thức nhận văn hóa (Cultural Awareness); năng lực liên văn hóa (Intercultural Competence) vàNLGTLVH (Intercultural Communicative Competence). Chƣơng 2trình bày kết quả nghiên cứu thu thập đƣợc qua hai cuộc điều tra từ phía giáo viên và học viên.
Cuối cùng, trong chƣơng 3, chúng tôi sẽ đƣa ra một số phân tích, bàn luận dựa trên những kết quả thu thập đƣợc, qua đó, đề xuất một vài đề xuất về hƣớng phát triểnNLGTLVH cho học viên tiếng Việt. NỘI DUNG 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ Bàn đến mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ không thể tách rời.Cao Xuân Hạo (1999) đã khẳng định: “Giữa tiếng nói của một dân tộc với nền văn hoá của dân tộc ấy chắc chắn phải có một mối quan hệ nhất định. Vì ngôn ngữ trực tiếp phản ánh các tri giác và tư duy thế giới của cộng đồng dân tộc, mà văn hoá dân tộc không thể không liên quan đến các tri giác và tư duy ấy” [3]. Trần Ngọc Thêm (1999) cũng cho rằng: “[…] văn hóa và ngôn ngữ […] là chất keo gắn kết các thành viên của một dân tộc với nhau , chúng làm nên tính đặc thù của dân tộc đó , do vậy mà chúng có mố i quan hê ̣ với nhau rấ t mật thiế t” [13].Quả thật vậy, cả văn hóa lẫn ngôn ngữ chỉ có thể đƣợc sáng tạo và phát triển trong xã hội loài ngƣời.
Tuy nhiên, do “văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra” [17, tr.24], vì vậy, ngôn ngữ làmột thành tố quan trọng của văn hóa. Trong mối quan hệ này, ngôn ngữ là phƣơng tiện vật chất để thể hiện văn hóa. Ngôn ngữ là phƣơng tiện phản ánh, còn văn hóa là một trong những nội dung phản ánh quan trọng; là “phần hồn” của ngôn ngữ.Nhờ ngôn ngữ mà văn hóa mới có thể đƣợc lƣu giữ, trao đổi và truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác.Ngƣợc lại, văn hóa cũng ảnh hƣởng đến ngôn ngữ. Điều kiện tự nhiên và xã hội chi phối sâu sắc đến cách nhìn nhận, lý giải và ứng xử với thế giới tự nhiên và xã hội của mỗi dân tộc.
Vì vậy, những dân tộc có văn hóa khác nhau sẽ có những cách phản ánh thế giới khách quan khác nhau, từ đó tạo nênthói 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quen, cách thức sử dụng và hành vi ngôn ngữ khác nhau. Thông qua ngôn ngữ, các giá trị quyết định đến cách thức tổ chức và vận hành của một cộng đồng văn hóa – xã hội sẽ đƣợc biểu lộ. Ví dụ, văn hóa Việt Nam coi trọng tính cộng đồng và lối sống tình cảm dẫn tới thói quen giao tiếp theo lối vòng vo và nhu cầu muốn tìm hiểu về đối tƣợng giao tiếp. Ngƣời Việt thƣờng nói chuyện nhiều để tìm hiểu, nhất là đối với ngƣời lần đầu tiên gặp, sau đó mới đi vào chủ đề chính.
Trong khi đó, văn hóa một số nƣớc phƣơng Tây coi trọng vai trò cá nhân và tƣ duy phân tích lý tính nên có thói quen giao tiếp trực tiếp, không muốn mất thời gian để đi vào vấn đề chính, tôn trọng cuộc sống cá nhân nên ít tò mò, ít hỏi những câu hỏi riêng tƣ đối với ngƣời mới gặp lần đầu. Phạm Đăng Bình (2013) đã phân tích, trong quá trình giao tiếp, thông tin đƣợc mã hóa và trao đổi từ phía ngƣời nói (ngƣời viết) sang ngƣời nghe (ngƣời đọc). Ngƣời nghe (ngƣời đọc) có nhiệm vụ giải mã và hiểu thông tin. Quá trình mã hóa, giải mã và hiểu thông tin diễn ra trên một phông nền ngôn ngữ và văn hóa nhất định.
Đối với trƣờng hợp các bên tham gia giao tiếp đều là ngƣời bản xứ, ít xảy ra vấn đề trong quá trình trao đổi thông tin hoặc nếu xảy ra cũng có thể đƣợc giải quyết dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với trƣờng hợp giao tiếp liên văn hóa, khi các bên cùng sử dụng một ngôn ngữ nhƣng lại đến từ những nền văn hóa khác nhau thì thƣờng không tránh khỏi nhiều vấn đề trục trặc trong giao tiếp. Vấn đề trục trặc này đôi khi không nằm ở năng lực ngôn ngữ mà ở năng lực về văn hóa của các bên tham gia. Sự khác biệt văn hóa đã “làm nhiễu” quá trình giải mã thông tin gây ra bất lợi cho quá trình giao tiếp; nhẹ thì chỉ là hiểu lầm; nghiêm trọng thì sẽ dẫn đến xung đột.
Vì vậy, kiến thức văn hóa có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp liên văn hóa. Xét trên phƣơng diện dạy và học tiếng, những phân tích trên đã khẳng định: chỉ có năng lực ngôn ngữ tốt thôi chƣa đủ để một ngƣời có thể sử dụng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một ngoại ngữ thành thạo và giao tiếp hiệu quả.Để giao tiếp thành công, năng lực ngôn ngữ cần đi đôi với năng lực văn hóa thể hiện qua cách hành xử văn hóa phù hợp và khả năng thấu hiểu nền văn hóa khác. Ngƣời học cần lĩnh hội đƣợc những cách hành xử văn hóa nhƣ cách chào hỏi, cách thể hiện sự biết ơn, cách đƣa ra yêu cầu, cách đồng tình hay phản đối trong ngôn ngữ đích. Ngƣời học cũng cần hiểu rằng những hành vi ngôn ngữ phù hợp khi giao tiếp với cộng đồng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ có thể sẽ đƣợc nhận thức khác đi và không còn phù hợp khi giao tiếp với những thành viên của cộng đồng ngôn ngữ đích.
Do vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không chỉ là đạt đƣợc sự thành thạo về ngôn ngữ mà còn là sự thành thạo về những cách biểu đạt văn hóa qua ngôn ngữ [22, tr. Chính vì thế, khi bàn về vai trò của văn hóa trong việc dạy và học ngoại ngữ, Byram (1989) đã khẳng định rằng “giáo viên ngoại ngữ cũng là giáo viên văn hóa”. Việc học một ngôn ngữ cũng chính là học cách suy nghĩ và tƣ duy của một dân tộc. Sự thức nhận văn hóa (Cultural Awareness) Trong giao tiếp liên văn hóa, mỗi ngƣời đến từ những nền văn hóa khác nhau không thể tránh khỏi việc phải đối mặt với những sự khác biệt văn hóa.
Nguyên nhân sâu xa của mọi sự khác biệt văn hóa xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Mỗi dân tộc sinh sống dƣới những điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau sẽ hình thành nên cách nhìn nhận, lý giải và ứng xử khác nhau với tự nhiên và xã hội. Có bao nhiêu nền văn hóa là có bấy nhiêu cách nhìn nhận, lý giải và ứng xử với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của con ngƣời. Vì vậy, để lý giải và ứng xử với sự khác biệt văn hóa, thức nhận văn hóa là một kỹ năng vô cùng quan trọng của mỗi cá nhân.
Trong cuốn Deep Culture: The Hidden Challenges of Global Living, Joseph Shaules có trích dẫn định nghĩa về sự thức nhận văn hóa (cultural 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com awareness) của Jan Gaston: “sự thức nhận văn hóa là sự nhận ra rằng văn hóa tác động đến nhận thức và văn hóa ảnh hưởng đến việc định thang giá trị, cũng như thái độ và hành vi”[25, tr.Mỗi một môi trƣờng văn hóa đều ẩn chứa trong nó những giá trị, tạo nên những quy tắc để vận hành xã hội. Con ngƣời và môi trƣờng luôn có sự tƣơng tác cho dù con ngƣời đã nhận thức hay chƣa nhận thức đƣợc sự tƣơng tác này. Sự tƣơng tác giữa cá nhân và môi trƣờng văn hóa chính là sự tƣơng tác giữa các hệ thống giá trị. Đứng trên góc độ của mỗi cá nhân, từ khi sinh ra, thông qua quá trình nuôi dƣỡng và giáo dục, mỗi cá nhân đều tiếp nhận văn hóa một cách tự nhiên bằng cách bắt chƣớc và làm theo mọi ngƣời xung quanh.
Cách mỗi cá nhân nhìn nhận và ứng xử với thế giới tự nhiên và xã hội, vì thế, đều chịu ảnh hƣởng từ cộng đồng mà cá nhân là một phần trong đó. Khi đặt cá nhân vào môi trƣờng văn hóa mới, nơi có sự khác biệt lớn hơn sự tƣơng đồng với nền văn hóa gốc của cá nhân, cá nhân sẽ gặp rất nhiều trở ngại để thích nghi. Lúc này, giữa nền văn hóa gốc của cá nhân và nền văn hóa mới diễn ra sự “va chạm văn hóa”. Sự khác biệt càng lớn thì “va chạm văn hóa” càng mạnh.
Để thích nghi, ban đầu, cá nhân vô thức sử dụng chính hệ thống giá trị trong nền văn hóa gốc của mình. Tuy nhiên, trong môi trƣờng văn hóa mới, cá nhân nhận ra những giá trị trong nền văn hóa gốc của mình giờ không còn phù hợp nữa. Từ đó, cá nhân nhận thức sâu sắc sự ảnh hƣởng của văn hóa đối với cách cá nhân nhìn nhận, lý giải và ứng xử với thế giới tự nhiên và xã hội bấy lâu nay. Một ngƣời chƣa thức nhận văn hóa sẽ tiếp nhận văn hóa một cách vô thức từ cộng đồng xung quanh, còn một ngƣời thức nhận văn hóa sẽ tiếp nhận văn hóa có ý thức thông qua quá trình so sánh và đánh giá.
Thức nhận văn hóa, vì vậy, là một quá trình tiếp nhận văn hóa có ý thức mang tính cá nhân. Theo Lê Ngọc Mai (2015), nhân tố chi phối đến sự thức nhận văn hóa của cá nhân bao gồm nhân tố ngoại cảnh và nhân tố nội tại. Nhân tố ngoại 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh là yêu cầu thích nghi và thời gian tiếp xúc còn nhân tố nội tại là giá trị quan của cá nhân. Yêu cầu thích nghi càng ở mức độ cao đòi hỏi cá nhân càng phải thức nhận văn hóa ở mức độ sâu hơn.
Thời gian tiếp xúc với môi trƣờng văn hóa mới càng lâu, sự tƣơng tác với môi trƣờng văn hóa càng liên tục, càng giúp cá nhân thức nhận văn hóa ở mức độ sâu hơn.