phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 2 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 trung học phổ thông. Chƣơng 2: Các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 trung học phổ thông. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm “ý thức” và “giáo dục ý thức” Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất. Giáo dục là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục học. Về bản chất: giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người.
Về hoạt động: giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Về mặt phạm vi: giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm. Quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách.12] Như vậy, “giáo dục ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan, hình thức thông qua quá trình giáo dục ý thức con người. Như ý thức về chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc, ý thức về chủ quyền biển đảo Tổ Quốc.
Giáo dục ý thức chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánh của hiện thực khách quan cho con người” [34. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm “chủ quyền biển, đảo” Chủ quyền là “Quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự mình làm chủ đất đai, tài sản, tự mình quyết định vận mệnh của mình. Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật mỗi nước, trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên tắc cơ bản cần tuân theo”[15] Theo hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
Khái niệm chủ quyền biển, đảo nằm trong khái niệm chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia” là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình. Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối với lãnh thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mỗi quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lí đối với lãnh thổ.
Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước như hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một số khái niệm nằm trong khái niệm chủ quyền biển, đảo tổ quốc. Nội thủy: “Theo quy định của khoản 1 Điều 8 Công ước Luật Biển 1982, nội thủy là “các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở, dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Nội thủy là một bộ phận lãnh thổ của quốc gia ven biển, có quy chế pháp lý như vùng nước hồ, ao, sông ngòi trong lục địa và thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối của quốc gia ven biển”.87] Lãnh hải: “là vùng biển nằm giữa nội thủy và vùng biển thuộc quyền chủ quyền (vùng tiếp giáp) và có chiều rộng là ≤ 12 hải lý tính từ đường cơ sở.
Ranh giới bên trong của lãnh hải là đường cơ sở của quốc gia ven biển, còn ranh giới ngoài của lãnh hải là đường song song với đường cơ sở và có chiều 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rộng bằng chiều rộng lãnh hải của quốc gia này đã được chính thức công bố. Đây là đường biên giới quốc gia trên biển, có ý nghĩa giới hạn chủ quyền của quốc gia ven biển”.101] Lãnh hải rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hãi. Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam. Vùng đặc quyền kinh tế: là một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa. Nếu nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam. Bảo vệ “chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc” chính là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc.
Như vậy, “giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo” là giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo Tổ Quốc và giáo dục cho các em ý thức cần phải bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong thời đại hiện nay. Mục tiêu của môn Lịch sử ở trƣờng Phổ thông Mục tiêu của chương trình Lịch sử THPT nói chung và của chương trình Lịch sử lớp 12 nói riêng được xác định dựa trên mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được quy định trong luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005). Theo đó, khoản 4, điều 27 quy định: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động…” Môn Lịch sử có ý nghĩa quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách cá nhân, do vậy, cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam coi Lịch sử là một trong những môn học cơ bản trong nhà trường phổ thông. Mục tiêu chung của môn học này là nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.
Trên cơ sở đó, giúp hình thành thế giơi quan, nhân sinh quan khoa học cho các em; giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành các năng lực tư duy hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đời sống xã hội, có hoài bão góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể mục tiêu của môn Lịch sử THPT được xác định là: Về kiến thức: Cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở bậc THCS. Khác với hệ thống tri thức ở bậc THCS, ở bậc THPT, kiến thức lịch sử Việt Nam vẫn được ưu tiên dành nhiều thời lượng hơn nhưng vẫn đảm bảo được hệ thống tri thức lịch sử thế giới (từ thời công xã nguyên thủy đến thời hiện đại) để các em học sinh có thể hình dung một cách toàn diện, sâu sắc hơn về lịch sử quốc tế và lịch sử dân tộc. Cụ thể, bộ môn Lịch sử ở trường THPT có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, hiện đại của khoa học Lịch sử, bao gồm: các sự kiện lịch sử, các khái niệm, thuật ngữ, niên đại, tên người, tên đất,…của lịch sử dâ tộc và lịch sử thế giới; những quy luật lịch sử, các quan điểm lý luận sơ giản để nhận thức lịch sử, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn cho các em.