đặt vấn đề một cách trừu tượng về hình thức của giai cấp tư sản về quyền bình đẳng trong đó bao gồm cả quyền bình đẳng dân tộc. Lênin đòi hỏi phải “phân biệt rõ nét những dân tộc bị áp bức phụ thuộc không được hưởng quyền bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bốc lột được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi” [ 31, 198-199 ] - Lênin khẳng định điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là phải làm sao cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản. Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy mới đảm bảo cho việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được các áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng. Nhiệm vụ quan trọng của các Đảng Cộng sản là phải ủng hộ tích cực, trực tiếp phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa.
Đặc biệt Lênin đòi hỏi giai cấp vô sản ở các nước tư bản đang thống trị các dân tộc lạc hậu, thuộc địa phải ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng của các dân tộc ấy. Trong các tác phẩm của mình, Lênin cho rằng nếu trước kia phong trào giải phóng dân tộc kết thúc với việc giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, thì Luan van 12 trong thời đại đế quốc chủ nghĩa những phong trào này được sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đứng đầu là các Đảng Cộng sản, khi gặp những điều kiện thuận lợi, có thể dẫn tới thành lập một chính quyền thực sự nhân dân. Trong trường hợp này, các nước thuộc địa cũ, với những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa vẫn còn tồn tại, có khả năng, với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản đã chiến thắng ở các nước tiên tiến - thực hiện bước quá độ dần chuyển lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Theo Mác - Ăngghen, trong thời đại ngày nay, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích của giai cấp mình với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Có triệt để xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp mới có điều kiện xóa bỏ áp bức dân tộc, mới đem lại độc lập tự chủ thực sự cho dân tộc mình và cho các dân tộc khác. Chỉ có giai cấp vô sản với bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của mình mới có thể thực hiện được điều này. Chí có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tuy nhiên, ở thời đại Mác - Ăngghen, các ông không đi sâu giải quyết vần đề dân tộc vì cơ bản vấn đề dân tộc ở Tây Âu đã được giải quyết trong cách mạng tư sản; nhất là các ông chưa có điều kiện bàn nhiều vấn đề dân tộc thuộc địa.
Đúng như Lênin đã từng nhận xét, đối với Mác, so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là thứ yếu thôi. Bước sang thời đại Lênin, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, Lênin mới có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận, được coi là học thuyết về cách mạng thuộc địa. Theo Lênin, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành Luan van 13 được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, lời tựa viết cho bản tiếng Ba-Lan xuất bản năm 1892, Ph.
Ăngghen nói đến vấn đề giữ vững độc lập tự chủ của mỗi nước trong sự hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế. Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế thành thực giữa các dân tộc châu Âu khi nào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhà mình;vì sự hợp tác nhịp nhàng giữa các dân tộc châu Âu, nền độc lập đó vẫn là cần thiết. Chỉ có giai cấp vô sản Ba- lan trẻ tuổi mới có thể giành được nền độc lập đó sẽ được bảo vệ chắc chắn. Vì đối với công nhân các nước khác ở châu Âu, nền độc lập của Ba-lan cũng cần thiết như đối với bản thân Ba-lan.
Trong lời kêu gọi thứ nhất của Tổng hội đồng Hội liên hiệp công nhân quốc tế về cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, C. Mác có nêu ra nguyên tắc của quan hệ đối ngoại cần phải phấn đấu sao cho những đạo luật đơn giản và đạo đức và chính sách mà các cá nhân phải tuân theo trong các quan hệ của họ trở thành những đạo luật tối cao trong các quan hệ giữa các dân tộc. Nguyên tắc thấm đẫm chất văn hóa ấy được C. Ăng ghen nhắc đi nhắc lại nhiều lần, coi đó là kim chỉ nam cho quan hệ đối ngoại của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng Sản.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản, các ông cho rằng, các Đảng Cộng Sản cần phải có sự liên kết rộng rãi, tranh thủ sự giúp đỡ của các đảng, lực lượng tiến bộ, các phong trào cách mạng trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Các ông chỉ rõ, sự liên kết đó là cần thiết, song phải đúng nguyên tắc, trên cơ sở mục đích chính trị của giai cấp công nhân, đó là: một mặt, tích cực ủng hộ những lực lượng tiến bộ, có xu hướng chống lại giai cấp tư sản; mặt khác, tăng cường ảnh hưởng của phong trào công nhân để mở rộng và phát triển lực lượng, phong trào cách mạng. Luan van 14 Như vậy, Mác, Ăngghen và Lênin đã nêu lên những quan điểm cơ bản về dân tộc và vấn đề giai cấp, tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho viêc xác định chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Độc lập tự chủ theo tư tưởng của Hồ Chí Minh Quan điểm về độc lập tự chủ trong đoàn kết hợp tác quốc tế của Hồ chí Minh, được thể hiện qua tư duy độc lập và sự nhạy cảm về chính trị trong phân tích, phát hiện những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc truyền thống; nhận thức mới về sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc; nhận thức mới về yêu cầu kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để thực hiện cuộc cách mạng của dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong hoàn cảnh phong trào giải phóng dân tộc phát triễn mạnh mẽ trên phạm vi quốc tế.
Nói về vấn đề đó, Hồ Chí Minh giải thích: “ Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” [ 14,136]. Điều đó cũng có nghĩa là, nước ta phải tự mình hoạch địch đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, phải vạch rõ những phương pháp và những biện pháp của riêng mình. Đường lối đó phải phục vụ lợi ích quốc gia: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, tự do, hạnh phúc cho nhân dân - như Người từng căn dặn cán bộ “ muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm ”. [ 24,11 ] Đó là độc lập tự chủ trong hoạch địch đường lối, chủ trương đối ngoại theo quan điểm Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, không thể hạn chế những hoạt động đó trong khuôn khổ dân tộc thuần túy, bởi vì những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ. Vì thế, mục tiêu và nhiệm vụ từ thực tiễn trong nước, vừa phải phù hợp với thực tiễn trong nước, vừa phải phù hợp với đặc điễm và xu thế quốc tế đương đại. Luan van 15 Khi nhấn mạnh yêu cầu độc lập tự chủ trong hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại của quốc gia, Hồ Chí Minh nêu lên hai khuynh hướng cần phải tránh: Một là, nếu không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Hai là, “ nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại ”.
[ 15,499] Độc lập tự chủ còn được thể hiện qua bản lĩnh và ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm khẳng định quyền được hưởng tự do và độc lập trong quan hệ quốc tế. Độc lập tự do dân tộc chính là mong muốn lớn nhất cũng là động cơ phấn đấu hi sinh đến trọn đời của Hồ Chí Minh. Độc lập tự do là mục tiêu chiến đấu, nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giải phóng dân tộc là không có gì quý hơn độc lập tự do, là khẩu hiệu hành động của toàn thể dân tộc Việt Nam đồng thời là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Cuộc kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi vang dậy núi sông: Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Tử tưởng của Hồ Chí Minh về giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Luan van 16 Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để giữ vững độc lập tự chủ trong đoàn kết quốc tế, hợp tác quốc tế phải giữ vững mục tiêu và nguyên tắc sẵn sàng thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở. Đối với trong nước, hoạt động đối ngoại phải dựa trên cơ sở sức mạnh bên trong - sức mạnh toàn dân, gồm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự - đó là sức mạnh tổng hợp quốc gia.