phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, cùng danh mục tài liệu sách tham khảo, luận văn gồm những nội dung chính sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn - Chƣơng 2: Phát triển tư suy sáng tạo của học sinhDạy học phần đạo hàm trong chương trình toán THPT qua dạy học phần Đạo hàm để phát triển tư duy sáng tạo của HS. - Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tư duy và vai trò của tư duy 1.
Khái niệm về tư duy Theo từ điển tiếng Việt (1998), tư duy là “Giai đoạn cao nhất của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, phán đoán và suy lí”. Tư duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiện ghi nhớ. Tư duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự định hướng điều khiển hay định hướng hành vi. Tư duy nói chung là quá trình tâm lý, phản ánh Formatted: Vietnamese (Vietnam) những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó ta chưa biết [22, tr.
Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống. Tư duy là sự hoạt động, là sự vận động của vật chất, do đó tư duy không phải là vật chất. Tư duy cũng không phải là ý thức bởi ý thức là kết quả của quá trình vận động của vật chất. Chính vì thế, tư duy mang các tính chất: tính khái Formatted: Vietnamese (Vietnam) quát, tính gián tiếp, tính trừu tượng.
Sản phẩm của tư duy là những khái niệm, phán đoán, suy luận để diễn đạt bằng những từ, ngữ, câu, … kí hiệu và công thức. Bốn bước hoạt động của quá trình tư duy Formatted: Vietnamese (Vietnam) Tư duy là một hoạt động trí tuệ với quá trình gồm 4 bước cơ bản: - Bƣớc 1: Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy. Nói cách khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp. - Bƣớc 2: Huy động trí tuệ, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết và cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi.
5 z - Bƣớc 3: Xác minh giả thuyết trong thực tiễn. Nếu giả thuyết đúng thì qua các bước sau, nếu giả thuyết không phù hợp thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới. - Bƣớc 4: Quyết định, đánh giá kết quả, đưa vào sử dụng. Sơ đồ của quá trình tư duy được miêu tả như sau: Nhận thức vấn đề Câu hỏi Xuất hiện các liên tƣởng Sàng lọc liên tƣởng và hình thành giả Giả thuyết thuyết Kiểm tra giả thuyết Xác minh Khẳng định Phủ định Tìm giả thuyết Chính xác hóa mới Quyết định Hành động tƣ Giải quyết vấn đề duy mới 6 z Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ.
Các thao tác trí tuệ cơ bản là: Phân tích, tổng hợp So sánh Trừu tượng hóa và khái quát hóa Cụ thể hóa, đặc biệt hóa Tưởng tượng Suy luận Chứng minh. Vai trò của tư duy Theo một nghiên cứu mới đây cho thấy để tránh sự xơ cứng của bộ não, ta nên tập thành thói quen suy xét một vật hoặc một vấn đề từ nhiều khía cạnh. Chịu khó tư duy, chịu khó động não chắc chắn sẽ có những cách giải quyết vấn đề hoặc những phát hiện bất ngờ. Định nghĩa trên đây có thể còn chưa trọn vẹn nhưng đã hàm chứa được hai vai trò quan trọng nhất của tư duy và một yêu cầu không thể thiếu đó là sự ghi nhớ.
Sự ghi nhớ này là kinh nghiệm, là tri thức. Sự ghi nhớ có thể được thực hiện bằng cách lặp lại sự tác động của đối tượng cần ghi nhớ lên hệ thần kinh. Tư duy trong ghi nhớ là trả về cho đối tượng các thành phần đúng của nó, bổ sung các thành phần còn thiếu, phân biệt nó với các đối tượng ghi nhớ khác, tìm ra các mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại của đối tượng với các sự vật, sự việc, đối tượng khác. Đây là quá trình nhận thức lý tính, nhận thức bằng tư duy.
Nó phân biệt với nhận thức cảm tính là nhận thức không có tư duy. Nhận thức lý tính giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ về đối Formatted: Vietnamese (Vietnam) tượng nhiều hơn những gì được cung cấp, giúp đối tượng được hiểu sâu hơn, được Formatted: Vietnamese (Vietnam) Formatted: Vietnamese (Vietnam) xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kỹ càng hơn, được nhận thức đúng đắn hơn, đặc Formatted: Vietnamese (Vietnam) biệt bổ sung những cái còn thiếu trong quá trình ghi nhớ về đối tượng. Formatted: Vietnamese (Vietnam) Sau khi giúp hệ thần kinh nhận thức đúng về đối tượng, tư duy tiếp tục giúp hệ thần kinh định hướng điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đối tượng nếu cần thiết hoặc có yêu cầu. Tư duy thực hiện việc này bằng cách kết hợp giữa nhận thức về đối tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thức phản ứng hoặc hành vi.
Việc này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiện thực tế. Sự định hướng của tư duy không phân biệt tính đơn giản hay phức tạp của đối tượng, có tư duy mọi công Formatted: Vietnamese (Vietnam) việc đều thực hiện theo những thủ tục, những quy trình, những văn bản pháp quy, những mẫu biểu, công thức, những quy định cho trước một cách thành thạo. Sáng tạo và quá trình sáng tạo 1. Khái niệm về sáng tạo “Nếu sự sáng tạo là điều thiết yếu để dẫn tới thành công trong công việc, thì tại sao người ta lại phàn nàn rằng khi được yêu cầu đưa ra những ý tưởng độc đáo hay một giải pháp sáng tạo thì đầu óc họ lại trống rỗng? Lời giải thích đơn giản là họ chưa sử dụng tối đa năng lực bộ não của mình”_Tony Buzan.
Sau đây là một vài quan điểm về khái niệm sáng tạo: Theo bách khoa toàn thư: “Sáng tạo là hoạt động của con người trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người. Sáng tạo là hoạt động có tính đặc trưng không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất”.Solsor: “Sự sáng tạo là mỗi hoạt động nhận thức đem lại một cách nhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay một tình huống”. Theo Henry – Glitman: “Sáng tạo là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích”. Theo từ điển tiếng việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần.
Hay sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có”. Qua các khái niệm về sáng tạo có thể nói ngắn gọn: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, có ích, độc đáo. Bốn giai đoạn của quá trình sáng tạo Quá trình sáng tạo trải qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Là giai đoạn chuẩn bị cho công việc ý thức, nghĩa là hình thành vấn đề đang giải quyết và giải quyết bằng các cách khác nhau. Ở giai đoạn này có vai trò là huy động các thông tin hữu ích còn tiềm ẩn để có thể cho lời giải cần tìm.
Cùng với các yếu tố suy luận và trực giác tồn tại và bổ sung cho nhau. Giai đoạn 2: “Giai đoạn ấp ủ”, được bắt đầu khi công việc có ý thức ngừng lại. Công việc tiếp diễn là các hoạt động của tiềm thức. 8 z Giai đoạn 3: “Giai đoạn bừng sáng trực giác”.
Đây là giai đoạn nhảy vọt về chất trong tiến trình nhận thức để quyết định cho quá trình tìm kiếm lời giải. Sự bừng sáng trực giác này thường xuất hiện đột nhiên không biết trước hoặc có khi nó xuất hiện sau khi đã có sự dự cảm sẽ biết được kết quả. Giai đoạn 4: Đây là giai đoạn kiểm chứng. Ở giai đoạn này cần phải triển khai lập luận, chứng minh lôgíc và kiểm tra lời giải nhận được từ trực giác.
Giai đoạn này rất cần thiết vì tri thức nhận được bằng trực giác chưa chắc chắn, nó có thể đánh lừa việc tìm kết quả. Sáng tạo là hoạt động đa dạng và phong phú của con người, có thể phân chia sáng tạo ra thành 2 cấp độ: - Cấp độ một: Là hoạt động cải tạo, cải tiến, đổi mới, nâng cao những cái đã có lên một trình độ cao hơn. - Cấp độ hai: Là hoạt động tạo ra cái mới về chất. Tư duy sáng tạo và những biện pháp phát triển tư duy sáng tạo 1.
Các quan điểm về tư duy sáng tạo Theo G.Mehlhorn cho rằng: “Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân đồng thời là mục tiêu cơ bản của giáo dục” Theo J.Danton: “Tư duy sáng tạo là năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, những mối quan hệ mới, là năng lực chứa đựng sự khái quát, sự phát minh, sự đổi mới, trí tưởng tượng …”. Theo George Polya : “Có thể gọi là tư duy có hiệu quả nếu dẫn đến lời giải bài tập cụ thể nào đó. Có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện để giải bài tập ”. Tư duy sáng tạo có những yêu cầu về sự tích lũy kinh nghiệm hay tích lũy tri thức, từ đó tìm ra cách giải quyết vấn đề không theo khuôn mẫu, cách thức định sẵn, gạt bỏ những hiểu biết về kiến thức thông thường, nhưng vẫn đảm bảo đủ 5 tính chất cơ bản là tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề.
9 z Tư duy sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giải quyết vấn đề này cho những vấn đề khác. Người chỉ có tư duy kinh nghiệm sẽ lúng túng khi gặp phải những vấn đề nằm ngoài kinh nghiệm, còn người có tư duy sáng tạo có thể giải quyết được những vấn đề ngoài kinh nghiệm mà họ có.