Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục tài chính cho học sinh lớp 1, 2 ở quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Chương 2: Cơ sở thực tiễn của giáo dục tài chính cho học sinh lớp 1, 2 ở quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
Chương 3: Thiết kế nội dung, hoạt động tích hợp giáo dục tài chính trong, môn Tự nhiên và xã hội, môn Toán, Hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 1, 2 tại quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. 8 Bên cạnh các phần chính, báo cáo còn các trang phụ lục gồm các nhóm khác nhau: các phiếu khảo sát, kế hoạch giảng dạy. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC TÀI CHÍNH CHO HỌC SINH LỚP 1, 2 Ở QUẬN BÌNH THẠNH, TP.
Tổng quan nghiên cứu về giáo dục tài chính 1. Nghiên cứu trên thế giới GDTC là một chủ đề đã được đề cập đến rất lâu và không còn xa lạ trên thế giới. Một số nhóm tác giả cho rằng GDTC là một phần giáo dục cần thiết cho HS bên cạnh giáo dục các kiến thức, kĩ năng đặc thù. Chẳng hạn: Trong nghiên cứu “The economic importance of financial literacy: Theory and Evidence” (2014), Lusardi và Mitchell đã nhấn mạnh vai trò về hiểu biết tài chính như sau: sự hiểu biết tài chính là một khoản đầu tư có giá trị và hữu ích khi giải quyết các vấn đề liên quan đến lương hưu, tiết kiệm, thế chấp và các quyết định tài chính khác.
Hay Walstad, Tharayil và Wagner (2016) cho rằng mục đích chính của GDTC trong trường học là nâng cao hiểu biết một loạt những vấn đề tài chính mà cá nhân có thể gặp phải trong cuộc sống. Đồng quan điểm với nhóm tác giả, Blue và Grootenboer (2017) cho rằng GDTC hiệu quả khi nó mang đến các mục tiêu hướng đến nhu cầu, mong muốn cụ thể của các chủ thể. Theo tác giả Lusardi (2019) thì hiểu biết về tài chính nên được coi là những kiến thức cơ bản quan trọng cũng như là khả năng đọc, viết. Nếu không có nó, các cá nhân và xã hội không thể phát huy hết tiềm năng của mình.
Nhiều nhóm tác giả đã đề xuất nên thực hiện GDTC từ khi HS còn nhỏ và đưa ra một số phương pháp cũng như nội dung GDTC phù hợp với từng độ tuổi. Trong nghiên cứu của Amagir. A và nhóm tác giả (2017) ủng hộ quan điểm GDTC phải bắt đầu ngay khi ở trường tiểu học và phải được luyện tập lại ở trường trung học, cao đẳng - đại học để đảm bảo việc học liên tục, GDTC phải là một phần bắt buộc trong CTGD. Phương pháp “Học tập trải nghiệm” là một phương pháp hữu ích khi GDTC ở trường tiểu học và THCS.
Ở trường tiểu học, hình thức “vừa học vừa làm” nên dựa trên “phương pháp thực hành” giúp HS dễ tiếp thu các nội dung GDTC, ở trường trung học nên bổ sung trải nghiệm thực tế vào các bài học và tác động đến nhận thức của HS về các mục tiêu trong tương lai. Ở đại học, nội dung 10 chương trình GDTC phải phù hợp với các sự kiện cuộc sống cụ thể của HS và có sự chuyển giao kiến thức, kĩ năng giữa các cấp lớp. Văn phòng tài chính của Bộ ngân khố Giáo dục Hoa Kỳ (2007) (Treasury Department’s Office of Financial Education) đã đề xuất các nguyên tắc GDTC, trong đó gồm 8 yếu tố giúp cho chương trình GDTC thành công mà bất kì chính phủ hoặc tổ chức nào cũng có thể sử dụng như sau: 1. Tập trung vào các kiến thức cơ bản – Tập trung vào một hoặc nhiều hơn trong bốn chủ đề: tiết kiệm, quản lí tín dụng, sở hữu nhà, lập kế hoạch hưu trí.
Phù hợp với đối tượng mục tiêu – ngôn ngữ, văn hóa, độ tuổi, kinh nghiệm của đối tượng được giáo dục để điều chỉnh chương trình thích hợp. Triển khai tại địa phương – Thực hiện chương trình ở địa phương, sử dụng hiệu quả các nguồn lực ở địa phương và cộng đồng để tác động đối với mọi người. Hỗ trợ người tham gia – để củng cố mục tiêu thực hiện và đảm bảo rằng HS có thể áp dụng, luyện tập các kĩ năng. Các mục tiêu chương trình cụ thể - Thiết lập các mục tiêu cụ thể và sử dụng thước đo hiệu suất để theo dõi quá trình đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Chứng minh thực nghiệm – Sử dụng khảo sát, thử nghiệm, đánh giá khách quan để chứng minh tác động tích cực đến thái độ, hành vi của người học. Khả năng mở rộng – Chương trình có thể triển khai ở nhiều địa phương, khu vực trên cả nước. Xây dựng lâu dài – Các chương trình có sự hỗ trợ tài chính liên tục, hỗ trợ nhờ lập pháp hoặc tích hợp. Theo Shaun Mundy (2008), tích hợp GDTC vào các môn học cho phép các chủ đề được cập nhật trong nhiều bối cảnh giáo dục, giải quyết được vấn đề về thời lượng các tiết học, môn học cũng như có thể tăng số lượng HS được tham gia GDTC.
Lusardi và Mitchell (2011) đã xây dựng “Big Three” - “Ba câu hỏi lớn” (1.Giả sử bạn có 100 đô la trong tài khoản tiết kiệm và lãi suất là 2% mỗi năm. Sau 5 năm, bạn nghĩ mình sẽ có bao nhiêu tiền trong tài khoản nếu bạn còn tiền để phát triển? 2. Hãy tưởng tượng rằng lãi suất trên tài khoản tiết kiệm của bạn là 1% mỗi năm và lạm phát là 2% mỗi năm. Sau 1 năm, bạn sẽ có thể mua bao nhiêu tiền trong tài khoản này không? 3.
Hãy cho biết câu nói này đúng hay sai? “Mua một chiếc cổ phiếu của công ty thường mang lại lợi nhuận an toàn hơn cổ phiếu tương hỗ quỹ.) 11 nhằm đo lường mức độ hiểu biết tài chính được thực hiện trong nhiều cuộc khảo sát ở Hoa Kì và các tổ chức tài chính. Ba câu hỏi này giúp người tham gia khảo sát xác định sự khác biệt về các kiến thức tài chính và làm nổi bật những rủi ro trong cộng đồng và các chủ đề quan tâm, từ đó tạo điều kiện để phát triển các chương trình GDTC phù hợp trong các trường học, cao đẳng, đại học Theo Beata. S (2019), GDTC nên thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cuộc đời, ngay khi bắt đầu trước tuổi đến trường. Để có thể cung cấp các thông tin cần thiết cần điểu chỉnh chương trình phù hợp với trình độ của từng giai đoạn lứa tuổi và nhu cầu của từng cá nhân, gia đình.
S đã đề xuất các nhu cầu và hình thức GDTC như bảng 1.1 dưới đây: (Beata Świecka, 2019) Bảng 1. Chu kì cuộc sống và nhu cầu hiểu biết tài chính STT Lứa tuổi Câu hỏi/ kiến thức tài chính cần biết Giáo dục tài chính 1 Mầm non - Tiền là gì? Hình ảnh của tiền – (3 – 5 - Giá trị của tiền là gì? Tiền trông như thế tuổi) - Em có thể mua những gì với tiền xu? nào? Dùng để làm - Em có thể mua những gì với tiền giấy? gì? 2 Đầu tiểu - Một cửa hàng, một ngân hàng là gì? Tài chính ở tiểu học học - Tiền đến từ đâu? – “tiền đến từ bức số học (1 euro + 1 (6 – 8 tường (ATM) euro = 2 euro) tuổi) - Tại sao chúng ta phải trả tiền? Quan sát gia đình - Các hàng hóa riêng lẻ có giá bao nhiêu? - Chi phí mỗi ngày mua sắm là bao nhiêu? - Chúng ta nên dùng tiền như thế nào? (Ví dụ: không phải tất cả cùng một lúc)? 3 Cuối tiểu - Làm thế nào để mua đồ trong cửa hàng? Kinh nghiệm (mua học - Những thứ khác nhau có giá bao nhiêu? sắm ở cửa hàng) (9 – 11 - Làm cách nào để có nhiều tiền? Chơi game (dòng tuổi) - Tiền có mang lại hạnh phúc hay không? tiền, độc quyền, bưu - Quản lí tài chính có thể học được không? điện) 12 4 Thanh - Làm thế nào để tiêu tiền? Lý thuyết ở trường niên - Làm sao để tiết kiệm tiền? với thực hành (12 – 20 - Ưu tiên trong tiêu dùng là gì? Quan sát trường cao tuổi) - Khi nào và làm thế nào để mở một tài đẳng khoản trên mạng internet? Kinh nghiệm - Nên học đại học, cao đẳng nào? Khóa học ngắn hạn - Thanh toán như thế nào? Sách internet - Ai có thể có thẻ trả trước hoặc thẻ ghi nợ? Nguồn: Sách Finanacial Literacy and Financial Education Năm 2015 trong nghiên cứu “Work, Education, and Income: Economics and Financial Literacy in the Early Grades” của Bonnie T. Meszaros and Andrew T. Hill đã xây dựng các bài học mẫu cho học sinh từ lớp K-5 để giúp học sinh hiểu về thu nhập có từ đâu.
Bài học bắt đầu từ các câu hỏi về những người xung quanh các em và nghề nghiệp của họ, các em có thể trả lời được số tiền họ kiếm được gọi là thu nhập. Khi nhóm tác giả làm việc với học sinh lớn hơn là lớp 5 thì các em biết người lớn có tiền khi có thu nhập nhưng không phải em nào cũng biết người lao động được trả công bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhóm tác giả Chien-Liang Liu, Dian-Fu Chang, Chih-Ming Chuang (2019) thực hiện điều tra về hiểu biết tài chính của các HS trung học phổ thông nghiên cứu này cho thấy HS lớp 9 có khả năng hiểu biết về tài chính tốt hơn so với học sinh lớp 8. Các khóa học liên quan đến quản lý tài chính cho HS, do MOE đề xuất, bao gồm lập kế hoạch, chiến lược và hành động tài chính đã cho thấy sự khả thi khi thực hiện ở các trường trung học.
Giới tính cũng ảnh hưởng đến sự hiểu biết tài chính của HS, HS nữ có hiệu suất khá hơn HS nam. Theo nghiên cứu “Financial literacy of high school students in the Netherlands: knowledge, attitudes, self-efficacy, and behavior” năm 2020 đã thực hiện khảo sát kiểm chứng các yếu tố tác động đến hiểu biết, thái độ, hành vi, kết quả, tự tin năng lực bản thân cho kết quả HS khả năng toán học thấp, sinh viên nhập cư, sinh viên có SES thấp, sinh viên có mẹ không có bằng đại học và sinh viên 13 không thảo luận các vấn đề tài chính với gia đình và đồng nghiệp có điểm kiến thức tài chính thấp hơn và không có thái độ cần thiết để thực hiện kiến thức này trong việc ra quyết định tài chính hàng ngày. Do đó, những phát hiện này hỗ trợ nhu cầu đối với GDTC ở trường trung học để đảm bảo các cơ hội bình đẳng và yêu cầu một cách tiếp cận có mục tiêu. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của phụ huynh và các HS đồng trang lứa về thái độ, hành vi của học sinh.