CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HO CHÍ MINH VE PHAM CHAT YEU THUONG CON NGƯỜI 1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hỗ Chí Minh về phẩm chat yêu thương con người. Cơ sở thực tiễn Những điều kiện về lich sử - xã hội trong và ngoài nước đã ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng của H6 Chí Minh vẻ lòng yêu thương con người. Bối cảnh quốc tế, lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, truyền thống của quê hương, sự giáo dục và nhân t6 gia đình, của thời đại đã góp phan tạo nên con người Hỗ Chí Minh.
Có thê nói, hoàn cảnh lịch sử xã hội những năm cuối thé ky XIX, đầu thé ky XX là những điều kiện khách quan, là cơ sở thực tiễn dẫn đến sự ra đời và phát triên tư tưởng Hỗ Chí Minh, trong đó có quan điểm về tình yêu thương con người. Thực tiễn thé giới Từ nửa sau thế kỷ XIX, sự chuyên biến của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang chú nghĩa để quốc. Giai cấp tư sản ở các nước tư bản tăng cường bóc lột công nhân chính quốc và mở rộng xâm lược, khai thác thuộc địa. Các nước dé quốc tăng cường cha đạp lên những giá trị tự do, dan chủ của con người không chi ở các nước đề quốc mà đặc biệt gay gắt ở các nước thuộc địa.
Với tất cá những gì được chứng kiến trong những năm tháng bôn ba ở nhiều quốc gia từ Chau A, Châu, Âu, Châu Phi, Châu Mỹ; Hỗ Chí Minh càng nhận thức rõ rằng ở đâu cũng có những con người bị chà đạp. bị bóc lột áp bức. ở đâu cũng có nanh vuốt quân thù. Điều đó càng khiến Hồ Chí Miinh xót xa, trăn trở về số phận con người trên khắp thé giới.
Dé rồi nhãn quan chính trị và lòng nhân ái bao la đã thôi thúc Người ding cảm vượt qua mọi hiểm nguy chiến dau không mệt mỏi vi sự nghiệp giải phóng con người. ¡0 Tình hình thé giới với nhiều sự chuyên biến mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến đời sống chính trị - xã hội Việt Nam, tác động đến cuộc dau tranh giải phóng dân tộc, việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói chung và tư tưởng về lòng yêu thương con người nói riêng. Bắi cảnh Việt Nam Vào nam 1858 thực dân Pháp nỗ tiếng súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Tra, Da Nang. Sau khí đánh chiếm được nước ta, thực dan Pháp thiết lập bộ máy thong trị thực dân và tiền hành khai thác nhằm cướp đoạt nguồn tài nguyên dồi dao, bóc lột nguồn nhân công một cách rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.
Từ năm 1897, thực đân Pháp khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sau chiến tranh thé giới thứ nhất, chúng khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương. Việt Nam không thé phát triển lên chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế bị tụt hậu và phải phụ thuộc nặng né vào kinh tế Pháp. Chúng chuyên chế vẻ chính tri, bóc lột về kinh tế, kìm hãm sự phát triển của giáo dục. Tình cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ rơi vào bé tắc, nhân dân làm than bởi sự áp đặt, cai trị, bóc lột nặng né của bọn thực dan Pháp và bẻ lũ tay sai.
Chúng bóc lột nhân dân đến tận xương tủy, chà đạp quyền con người khi giai cấp công nhân phải làm việc trên 10 tiếng mỗi ngày. phương tiện lao động thô sơ, thường xuyên bị sa thải, phải gánh chịu hàng trăm thứ thé vô lý. Ngoài ra, bọn chúng đã thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ của con người. thang tay chém giết những người Việt Nam yêu nước đám chống lại sự thống trị tàn bạo ấy, tắm các cuộc khởi nghĩa trong biên máu.
Đời sống của nhân dân trong những năm thang đó gặp muôn vàn khó khan. Sinh ra và lớn lên trong những năm tháng chiến tranh của đất nước, đã sớm chứng kiến những tình cảnh khốn khổ, cùng cực, bị giết chóc của nhân dân khi chịu li sự bóc lột tàn nhan của thực dân Pháp qua các cuộc khai thác thuộc địa ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh hình xã hội Việt Nam. Sự phân hóa giai cấp điển ra ngày càng sâu sắc hơn, những ảnh hưởng đó đã có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng HO Chí Minh. Ở Người đã sớm thắp lên ngọn lửa của tình yêu quê hương đất nước, lòng yêu thương con ngưởi, căm thù bọn thực dan và lũ bắn nước.
Dưới sự thông trị của thực dân Pháp, dân tộc ta đã đấu tranh mạnh mẽ. Mục đích của các cuộc dau tranh nhằm chống lại sự áp bức, bất công, nô dịch, bóc lột tàn nhẫn, mất nhân tinh của bọn thực dân Pháp dé giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Các phong trào đã diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt với nhiều hình thức dau tranh với sự hưởng ứng đông đảo của nhân dan tham gia thê hiện tính than yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Nhưng tiếc thay, những cuộc đấu tranh đó lại không đem đến sự thành công và hoàn thành mục đích ban đầu của nó.
Tuy that bại nhưng đã giáng đòn nặng nẻ đến thực dân Pháp, cô vũ mạnh mẽ lòng yêu nước nông nàn và ý chí quật cường của dân tộc ta, góp phan thúc day những nha yêu nước. thanh niên trí thức tiếp tục hành trình tìm con đường cứu nước phù hợp với yêu cầu cách mạng đặt ra. Nhiệm vụ lịch sử có cap bách là cần có đường lỗi cứu nước đúng đắn dé giải thoát cho dân tộc khỏi xiéng xích nô lệ. Diéu đó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và hanh động của Người.
Khi đã chứng kiến những bat công, nghịch lý. sự giày xéo lên quê hương và nhân dan ta của bọn cướp nước, Hỗ Chí Minh đã có những nhận thức và hành động cụ thê đối với lòng yêu đất nước. yêu dân tộc Việt Nam. lớn lên chứng kiến cảnh nước mat, nhà tan, người dân cực khổ, nhục nhã dưới gót giày định xâm lược của thực dân dé quốc đã hình thành ¬ a £ 2 ` ` a vs.
iw L trong Người lòng yêu nước nông nàn, lòng yêu thương con người sâu sắc qua những năm tháng gian khó, ách bóc lột của bọn thực dân khiến nhân dân ta sông trong cảnh lam than. Bồi cảnh Việt Nam thời bay giờ đã có những tác động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh vẻ lòng yêu thương con người, do đó Người quyết chí ra di tìm con đường giải phóng cho dân tộc cũng chính bởi yêu thương con người. Với những gì được chứng kiến, lòng thương din ở Người càng trở nên sâu nặng hơn. Nhận thấy không thê trông cậy, phụ thuộc vào sự giúp đỡ hay tiếp tục nhìn cảnh tang thương, tiêu điều của quê hương dat nước.
Người ủng hộ việc tìm con đường giải phóng đất nước nhưng không đồng tình với cách làm của cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là nhờ các nước khác. Với Người, kháng chiến chống Pháp là trường kỳ gian khô nhưng phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. H6 Chi Minh đã quan niệm rằng: *Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dan tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập." (Hồ Chí Minh, Toan tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 201 I, tập 7. Có thé nói, những điều kiện trong nước và thé giới đã tác động rat lớn đến nhận thức và hành động của các nhà yêu nước đương thời, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bing tư duy, nhận thức, trí tuệ thiên tài nhạy bén, vào năm 1911 chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. xem các nước có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt, tư tưởng tự do họ làm như thể nào dé trở về giúp đỡ đồng bào mình thoát khỏi sự áp bức của thực dan Pháp. Hỗ Chi Minh đã quyết chí rời xa Tô quốc với khát vọng cao đẹp là “mong muốn làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" (H6 Chi Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. Đó là tư tưởng là hành động xuyên suốt cuộc đời Bác mà nếu không có lòng yêu thương con người thì khó có thể thực hiện được.
Truyền thông nhân ái của dân tộc Việt Nam Trong quá trình lao động sản xuất và dau tranh gìn giữ bở cõi, lòng nhân ái là truyền thông noi bật của dân tộc Việt Nam. Sống trong điều kiện thiên nhiên lúc thuận lợi, lúc gặp nhiều sự trở ngại khắc nghiệt nên nhân dan ta phải liên kết với nhau trong việc đấu tranh, vượt qua những lúc khó khăn do thiên tai, địch họa dé tiến hành sản xuất nông nghiệp. Thuở ban sơ, dan ta cùng nhau khai khan đất hoang, lấp biên, lập làng, cùng nhau làm nhiều việc dé đảm bảo sinh tồn và phát triển. Trong quá trình ấy, mọi người đều có tinh than “tương thân tương ai” nương tựa lẫn nhau, yêu thương, đùm bọc mới có thành công.
Truyền thống nhân ái của đân tộc ta có thẻ khái quát thành các nội dung sau: Thứ nhất, tư tưởng đoàn kết yêu nước, chống giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc, yêu chuộng hòa bình. “Thuong người như thê thương than” hay “lá lành đùm lá rách” đối với người đang gặp khó khăn cần sự giúp đỡ là đạo lý sống của người Việt Nam từ xa xưa. Tâm lòng thương yêu nhau của con người Việt Nam còn được thẻ hiện ở những hành động giúp đỡ người gặp hoạn nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Nghệ An, đã có nhiều năm tháng sống trong sự yêu thương của nhân dan, lỗi sông tình nghĩa, những điều đó sớm được tiếp thu cùng truyền thống nhân ái của dân tộc với những đặc trưng riêng.
Người thường đặn rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lénin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được.” (Hỗ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 14 Dan tộc Việt Nam rat xem trọng tình yêu thương giữa người với người, “danh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”, sẵn sàng tha thứ lỗi lầm nếu họ biết hối hận và làm lại từ đầu dù đối tượng đó là ai. Điều đó được thê hiện qua việc khoan dung, giữ lại mạng sống, tạo cho họ điều kiện trở vé dù từng là kẻ thù xâm lược đã bại trận hay đầu hang.