chương 1, học viên có khả năng: 1. Phân tích cấu trúc hoạt động giáo dục dưới tiếp cận kỹ thuật, công nghệ; Xác định rõ quan điểm, triết lý giáo dục qua các thời kỳ. Thiết lập quy trình xây dựng chương trình giáo dục, đào tạo. Tìm kiếm tài liệu học tập, phối hợp với làm việc nhóm hiệu quả.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ Kỹ thuật: Ứng dụng các thành tựu của khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Kết quả của nghiên cứu kỹ thuật góp phần tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới [1]. Công nghệ: Tri thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ [1].
Giáo dục kỹ thuật và công nghệ: Các hoạt động giáo dục ở góc độ công nghệ/ kỹ thuật nhằm triển khai nội dung dạy học, vận dụng phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện dạy học ở các hình thức dạy học khác nhau. Nội dung giáo dục kỹ thuật và công nghệ Hiện nay thế giới đang đẩy mạnh số hóa tất cả các lĩnh vực giáo dục, đời sống,. Trong giáo dục, việc số hóa hay quá trình công nghệ, các hoạt động kỹ thuật với nguyên liệu trong chính giáo dục đã diễn ra từ lâu, đã và đang có những kết quả nhất định. Các nguồn dữ liệu thông tin, nội dung kiến thức giáo dục đầu vào được số hóa (thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ) và chuyển giao qua công cụ số nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu thông tin và tương tác mạnh cho người học.
Giáo dục được 11 phát triển trên nền tảng, công cụ số theo nguyên tắc giàu nội dung, đa định dạng, tương tác mạnh, tái sử dụng, dễ tiếp cận, tra cứu, chia sẻ và đóng góp,… Học liệu số dần trở thành mục tiêu, phương tiện hữu hiệu trong các quá trình giáo dục; quá trình này cũng bao gồm chuyển đổi các năng lực, khả năng con người. Trong học tập những chuyển đổi này được tiến hành thông qua các mô hình, đồng thời có thể xem các hoạt động trí tuệ như quy trình hoạt động của máy tính. Tức là học tập xem như là quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin như là nguyên liệu được xử lý theo những quy trình, công nghệ với các kỹ thuật nhất định. Cấu trúc giáo dục kỹ thuật và công nghệ Ở góc độ kỹ thuật và công nghệ (Hình 1.1), giáo dục học sinh hiểu biết về thông tin là kiến thức nền tảng; giúp học sinh xử lý các sự kiện, các dữ liệu là kỹ năng đối diện trực tiếp trong cuộc sống.
Trong thời đại thông tin đa chiều, việc tìm kiếm thông tin đáng tin cậy trở thành một công việc cần thiết mà con người cần sự định hướng, cần rèn luyện và được tổ chức như những hoạt động ở trường học. Tổ chức hoạt động giáo dục cần chỉ cho học sinh những thông tin cần tiếp thu, tách thông tin khỏi quá trình công nghệ và kỹ thuật tạo nên thông tin đó. Điều quan trọng là giáo dục học sinh để họ tự mình xác định tính trung thực của thông tin, từ đó tiếp nhận thông tin đảm bảo có giá trị cho việc phát triển năng lực và phẩm chất trong thời đại mới. Bên cạnh đó, học sinh cũng cần giáo dục hiểu biết về phương tiện truyền thông bằng thực hành xác định các phương pháp xuất bản, xác định nguyên liệu và sản phẩm của thông tin.
Đó cũng là hoạt động có ý nghĩa để giáo dục cho thế hệ trẻ phân biệt giữa những phương pháp đáng tin cậy và những phương pháp không đáng tin cậy. Cũng giống như kỹ năng khác, hiểu biết về phương tiện truyền thông rất hữu ích để tìm ra sự thật trong một thế giới đa thông tin. Qua đó thế hệ trẻ tìm thấy những nguồn thông tin đáng tin cậy trong cuộc sống của họ. 12 Trong giáo dục, hiểu biết về công nghệ là sự tiến thêm một bước nữa để dạy về các máy móc liên quan đến thời đại thông tin.
Khi máy tính, lập trình đám mây và thiết bị di động trở nên quan trọng hơn đối với thế giới, thế giới cần nhiều người hơn để hiểu những khái niệm đó. Kiến thức công nghệ cung cấp cho người học thông tin cơ bản mà họ cần để hiểu các kỹ thuật thực hiện những nhiệm vụ gì và tại sao. Sự hiểu biết này loại bỏ cảm giác sợ công nghệ và sẵn sàng đối diện với nhiệm vụ phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh. Những kiến thức về công nghệ, kỹ thuật cho thấy những công cụ khai thác nguyên liệu dưới dạng thông tin được hỗ trợ mạnh mẽ đã và đang hoạt động trên thế giới ngày nay và giáo dục không phải ngoại lệ.
Qua đó, hoạt động giáo dục kỹ thuật và công nghệ thích nghi với thế giới và làm cho chính hoạt động giáo dục hiệu quả hơn [3]. Cấu trúc quá trình giáo dục Đổi mới giáo dục nhằm “đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người trong xã hội. Sử dụng phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc”. Dù ở giai đoạn phát triển nào của xã hội thì dạy học, là đặc trưng của hoạt động giáo dục luôn có cấu trúc kỹ thuật thể hiện đặc điểm công nghệ trong chính nó [3].
Và giáo dục kỹ thuật và công nghệ chính là sự thể hiện đặc trưng về yếu tố kỹ thuật và yếu tố công nghệ trong quá trình giáo dục mà nổi bật là hoạt động dạy học.2: Cấu trúc hoạt Hình 1.3: Triển khai quá trình động dạy học giáo dục 13 Dạy học phát triển tác động làm cho cấu trúc của chính nó càng hoàn thiện thành một hệ thống toàn vẹn hơn thể hiện rõ hơn tính công nghệ. Cấu trúc dạy học (công nghệ) là một hệ thống bao gồm các thành tố liên hệ, tương tác với nhau tạo nên chất lượng mới. Ở góc độ dạy học thì cấu trúc bao gồm những thành tố (Hình 1.2): mục tiêu (MT) dạy học, nội dung (ND) dạy học, đánh giá (ĐG) trong dạy học. Dạy học hằng ngày là sự thể hiện giáo viên sử dụng phương pháp (PP), phương tiện (PT), hình thức (HT) dạy học để tác động đến học sinh.
Các thành tố này có quan hệ, tác động như các yếu tố của quá trình công nghệ. Trong đó mục tiêu dạy học định hướng cho các thành tố khác trong quá trình này, và mục tiêu cũng được hiện thực hóa bằng nội dung. Người giáo viên với hoạt động dạy (PT, PP, HT) của mình tác động đến “động cơ” của người học để thúc đẩy họ học tập. Sự tác động lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh sẽ tạo nên kết quả dạy – học, hoạt động dạy và học còn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài xã hội (kỹ thuật, công nghệ, khoa học, kinh tế, văn hóa,…).
Đổi mới giáo dục theo hướng cụ thể hóa mục tiêu (Hình 1.3) là điểm mới của Chương trình giáo dục 2018. Trên cơ sở này giáo viên lựa chọn nội dung dạy học để đáp ứng mục tiêu, do đó sẽ được triển khai bằng các phương tiện khác nhau. Giáo viên lựa chọn hình thức giáo dục phù hợp, từ đó sử dụng phương pháp giáo dục khác nhau. Trên cơ sở đó xây dựng phương án đánh giá phù hợp mục tiêu giáo dục.
Một trong những yêu cầu của nội dung giáo dục kỹ thuật và công nghệ là tính thực tiễn. Như vậy, mục tiêu giáo dục phải định hướng cho học sinh lý giải được những vấn đề mang tính thực tiễn ứng dụng khoa học vào cuộc sống và tăng cường hướng nghiệp cho học sinh. Sự bùng nổ thông tin theo sự tiến bộ của khoa học công nghệ ngày càng phát triển ở mức độ rất cao, giáo dục cần theo tiếp cận kỹ thuật và công nghệ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn giữa thời gian dạy học và khối lượng thông tin đối với môn học. Ngoài ra cần thiết mô hình hóa, tinh giản hóa nội dung theo hướng những kiến thức cơ bản nhất và vận dụng công nghệ dạy học nhằm chuyển tải khối lượng thông tin một cách đa dạng và hiệu quả.
Nội dung giáo dục theo tiếp cận kỹ thuật và công nghệ cần phải đổi mới theo hướng hiện đại phù hợp với sự tiến bộ của khoa học công nghệ. Trong đó việc đổi mới nội dung giáo dục nhằm giúp cho học sinh tiếp cận với những công nghệ hiện đại và định hướng nhận thức kỹ thuật, chuẩn bị cho việc hòa nhập với sự 14 phân hóa cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phương pháp giáo dục Đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới, việc xây dựng mục tiêu dạy học được đặt ở vị trí hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong đảm bảo chất lượng dạy học. Sản phẩm đầu ra hay chất lượng phải được đo bằng mức độ đạt mục tiêu; chất lượng càng cao càng thể hiện sự trùng khớp với mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu giáo dục luôn chứa đựng 3 thành tố cơ bản: thành tố hành vi, tức là thành tố thể hiện những hành vi mà người học thực hiện được, cụ thể là những việc mà người học làm được; thành tố thực hiện, biểu hiện khối lượng, mức độ người học thực hiện được hành vi; thành tố điều kiện, những điều kiện, hoàn cảnh để người học thực hiện được hành vi và đạt được mức độ thực hiện. Do đó, giáo viên cần là người tổ chức, hỗ trợ học sinh các hoạt động giáo dục; học sinh tự lực, tích cực lĩnh hội tri thức và hiệu quả giáo dục. Để đạt được điều này người dạy cần kết hợp đa dạng các phương pháp giáo dục, chú trọng các phương pháp phát huy tích tích cực, giải quyết vấn đề thực tiễn, làm việc nhóm. Giáo dục bằng phương pháp tích cực và khi đánh giá học sinh cần dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.