Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước 1.
Lịch sử nghiên cứu kĩ năng sống và hoạt động GDKNS Từ những năm 1960, khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà tâm lý học,… quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu, tập trung nhiều về các khía cạnh: khái niệm, nội dung và hình thức giáo dục kĩ năng sống, UNESCO đã chỉ ra ba thành tố của học vấn là: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó kĩ năng và thái độ đóng vai trò then chốt và cho rằng KNS là năng lực cá nhân, giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (Nguyễn Thanh Bình, 2017). Từ những năm 1990, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới và trong nhiều chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới. Các nghiên cứu trên thế giới đều hướng đến tìm một quan niệm chung về KNS và GDKNS để từ đó đưa ra mục tiêu, nội dung giáo dục KNS. Các tổ chức lớn trên thế giới đi tiên phong trong việc khuyến khích tất cả các quốc gia trên đưa GDKNS vào chương trình giáo dục của mình.
Mục tiêu của GDKNS cho thế hệ trẻ toàn cầu được các tổ chức này thống nhất là nâng cao tiềm năng của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ để họ có được những hành động nhằm thích ứng và làm chủ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc), những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kĩ năng đọc, viết, tính toán; GDKNS là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động, UNICEF đề nghị hệ thống KNS gồm 3 nhóm kĩ năng được nhìn nhận dưới góc độ tồn tại và phát triển cá nhân bao gồm: 1) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình: kĩ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, kĩ năng 8 xây dựng mục tiêu cuộc sống, kĩ năng bảo vệ bản thân,…2) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với người khác: kĩ năng thiết lập quan hệ, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, …3) Nhóm kĩ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả: kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng nhận thức thực tế, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng ứng xử, kĩ năng giải quyết vấn đề,…(Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015). Theo quan niệm của tổ chức UNESCO, hệ thống KNS gồm 2 nhóm kĩ năng: 1) Những KNS chung gồm: kĩ năng nhận thức, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, 2) Những kĩ năng trong từng vấn đề cụ thể như: các vấn đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường (Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Nguyễn Việt Cường, 2000), (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015). Theo quan niệm của tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Cụ thể hơn, nó là khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống, đó cũng là khả năng một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về tinh thần biểu hiện qua các hành vi tích cực và phù hợp khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh; năng lực tâm lý xã hội có vai trò phát huy sức khỏe về thể chất, tinh thần và xã hội. Các tổ chức WHO, UNESCO, UNICEF nhìn chung đã thống nhất rằng kĩ năng sống là những khả năng hành động mà con người cần rèn luyện để thích ứng và làm chủ cuộc sống hiện tại cũng như tương lai của mình và đã xác định 10 KNS cơ bản, được xem như cần thiết để giáo dục cho tất cả mọi người là: kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng truyền thông có hiệu quả, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng thấu cảm, kĩ năng ứng phó với cảm xúc, kĩ năng ứng phó với (Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Nguyễn Việt Cường, 2000). Từ những năm 2000, các quốc gia trên thế giới khi xây dựng chương trình giáo dục cho riêng mình, đã nhấn mạnh giáo dục kĩ năng và thái độ cho tất cả học sinh các độ tuổi, trong đó có GDKNS cho học sinh trong nhà trường, GDKNS đã được thực 9 hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người năm 2000 yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học tiếp cận giáo dục kĩ năng sống phù hợp, Theo tài liệu của UNICEF, đã có hơn 155 nước trên thế giới đưa GDKNS vào nhà trườngbằng nhiều hình thức giáo dục khác nhau (Nguyễn Thanh Bình, 2008), (Trần Thị Mỹ Hạnh, 2010).
Trong những năm gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về GDKNS nhằm giới thiệu các vấn đề lý luận và thực tiễn của GDKNS dành cho các nhà quản lý, nhà giáo dục, cha mẹ học sinh và những người làm công tác huấn luyện, giáo dục trẻ em, Life Skill Education and Curriculum (Chương trình và Giáo dục kĩ năng sống) của Gracious Thomas (2006) nhấn mạnh vai trò của giáo viên và huấn luyện viên trong việc trang bị các KNS cho trẻ em. The Indispensable – Book of Practical Life Skills (Quyển sách về những kĩ năng thực hành thiết yếu) của Nic Compton (2009) cung cấp phương thức giải quyết vấn đề trong cuộc sống làm cho trẻ em lo lắng, bối rối thông qua những hướng dẫn cụ thể trong việc xử lý các tình huống. Teaching Your Children Life Skills (Dạy kĩ năng sống cho trẻ em) của Deborah Carroll đã đề cập đến mười lưu ý khi dạy con trẻ để biến những cuộc đi mua sắm, kỳ nghỉ và các tình huống khác trong sinh hoạt hàng ngày trở thành những cơ hội học tập những KNS và đã chỉ ra cách thức ngắn gọn giúp trẻ em đối xử tử tế và phát triển lòng tự trọng. The Practical Life Skills Workbook (Sách hướng dẫn những kĩ năng sống mang tính thực hành) của Ester A, Leutenberg và John J, Liptak (2009) nhấn mạnh vai trò của KNS trong cuộc sống hàng ngày và phân tích mối quan hệ giữa KNS với trí thông minh, cảm xúc và nhân cách cũng như vai trò của KNS cho sự thành công của cá nhân (Trần Thị Mỹ Hạnh, 2010).
Lịch sử nghiên cứu mạng xã hội và hoạt động giáo dục KNS thông qua mạng xã hội Mạng xã hội ra đời đã ảnh hưởng vào nhiều mặt của đời sống. Do vậy, trường học không thể đứng ngoài xu hướng công nghệ này bởi giới trẻ ngày nay lớn lên cùng với web 2,0. Thế nên, nhiệm vụ đặt ra cho nhà trường (cũng như giáo viên) là giúp người học khám phá những công dụng khác (ngoài giải trí, kết nối bạn bè) của mạng xã hội, nhận thức được tính hai mặt (tốt và xấu) của web 2,0, cũng như giáo dục cho 10 học sinh, sinh viên năng lực chịu trách nhiệm đối với những nội dung mà họ đăng tải trên Internet (Atabekian, 2010). Trong giảng dạy ngoại ngữ, năm 2003, tại Australia, Hannah & de Nooy yêu cầu sinh viên lên diễn đàn của báo Le Monde để thảo luận các vấn đề chính trị (Hanna & de Nooy, 2003), Năm 2006, Ollivier cho 15 sinh viên người Áo viết bài về nơi mà họ sinh ra trên Wikipedia (Ollivier, 2007).
Tháng 11 năm 2012, trong khuôn khổ dự án “Le français en (première) ligne”, sinh viên người Latvia đã giới thiệu một bộ phim của Latvia trên Prezi. So với các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ khác, ưu thế của mạng xã hội là giúp người học có cơ hội trao đổi thực sự với những người nói ngôn ngữ này. Nhờ đó, việc học có tính thực tiễn hơn, mang nhiều ý nghĩa hơn so với các tình huống giao tiếp giả định ở trong lớp học – nơi giáo viên dường như là người duy nhất mà các sản phẩm của người học hướng đến (Dejean-Thircuir & Mangenot, 2013). Ngoài ra, nhờ lợi thế về công nghệ, các sản phẩm do người học thực hiện trên mạng xã hội thường sống động, độc đáo hơn.
Có thể lấy bài giới thiệu phim của sinh viên Latvia ở trên làm ví dụ: khi chọn Prezi làm công cụ, người học có thể đưa vào phần trình bày cả văn bản, hình ảnh, lẫn một trích đoạn phim ngắn. Với các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội, có thể điểm qua như sau: Được xem như một kênh truyền thông mới, sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Trên thế giới, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết về mạng xã hội và giới trẻ đã thu được nhiều thành quả, tiêu biểu như: Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013: “Social networks and Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen sử dụng Internet của thế hệ trẻ). Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những hành vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về mạng xã hội, Internet.
Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại. Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với tên gọi “Young and old use social 11 media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già sử dụng truyền thông xã hội với những lý do đáng ngạc nhiên), đã cho thấy những lý do mà mọi người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương lai như thế nào. Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: Is social networking bad for today's generation? (Có phải mạng xã hội là xấu đối với thế hệ ngày nay?).