Chương 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE GIÁ TRI ĐẠO ĐỨC TRUYEN THONG VA GIAO DUC GIA TRI DAO DUC TRUYEN THONG CHO THANH NIEN TRONG BOI CANH DO THI HOA O QUAN HA DONG, HA NOI 1. Quan niệm về giá tri đạo đức truyền thống và giáo dục gia tri đạo đức truyền thống. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống Có nhiều quan niệm khác nhau về giá trị. Từ điển triết học giản yếu cho rang, giá trị là chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chat cũng như tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người [60, tr.
Có quan niệm coi "giá trị như là những điểm tích tụ tập trung của tư tưởng một giai cấp nhất định hoặc một chế độ xã hội nhất định" [80, tr. Nghĩa là, các giá tri thể hiện một cách lịch sử, các mục tiêu, yêu cầu, quy tắc, lý tưởng cụ thể của một chế độ xã hội nhất định hay của một giai cấp nhất định. Nhu vậy, với khái niệm này, giá tri - trong nhiều trường hợp — là định hướng phát triển cơ bản của đời sống tinh thần nhân loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Theo như Giáo sư Nguyễn Trọng Chuan khi nghiên cứu về giá trị đã khăng định: “nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [5, tr.
Có thê thấy rằng, đạo đức truyền thống cũng có cả những điểm tích cực và những điểm tiêu cực. Những điểm tích cực trong đạo đức truyền thống thường được gọi là giá trị đạo đức truyền thống mà như giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét rằng: "Truyền thống thì có cái tốt cái xấu, nhưng khi chúng ta nói "giá tri truyện thong" thì ở đây chỉ có cái tot mà thôi, bởi vì chỉ có 13 những cái gì tốt thi mới được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dat hành động của một dân tộc thì mới mang day đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống” [39, tr. Như vậy, có thể hiểu giá trị đạo duc truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức có tính tích cực, được truyén day, duoc moi người hay một cong dong nhat dinh tu nguyén noi theo. Mỗi dân tộc đều có hệ giá trị dao đức truyền thống của riêng mình.
Đó là một bộ phận trong hệ thống giá trị tư tưởng của dân tộc đó. Đối với Việt Nam, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được nảy sinh va phát triển trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó được lưu truyền, chắt lọc, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác và chiếm vị trí cốt lõi trong hệ giá trị tỉnh thần của dân tộc. Sớm xác định được vai trò quan trọng của giá tri đạo đức truyền thống của dân tộc đối với sự phát triển của đất nước, nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ luôn trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống quý báu đó.
Về sự hình thành của các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, theo học thuyết Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rang việc nhận thức các hiện tượng của đời song tinh thần xã hội cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó. Như vậy, sự hình thành giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam gắn liền với với các yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Việt Nam năm ở giữa Đông Nam Á, ở vị trí ngã tư đường giao lưu Bắc - Nam, Đông - Tây, là một vi tri chiến lược vô cùng quan trọng. Việt Nam là vùng đồng bằng được bồi đắp bởi sông Hồng và nhiều con sông lớn khác, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng 4m mưa nhiều, nhiều bão lũ nên dé tồn tại và phát triển, con người Việt Nam phải đoàn kết, chung tay chung sức với nhau.
Việc 14 hoạt động tập thé, dé cao tính có kết cộng động không chỉ nhằm giúp đỡ nhau trong công việc chăn nuôi trồng trọt mà cả trong việc chiến đấu chống lại kẻ thù. Điều kiện tự nhiên đã góp phan rèn luyện tinh thần lao động can cù, khả năng sáng tạo, tình thương người, lòng vi tha. của người Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: “Những thử thách lớn của thiên nhiên đã làm cho cư dân Văn Lang, Đại Việt giỏi chịu đựng gian khổ, vượt qua những khó khăn tưởng chừng không vượt qua nỗi, kiên trì đấu tranh, bên bi lao động và thân ái đùm bọc lẫn nhau, lạc quan, tin vào sức của mình” [39, tr.
Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành gan liền với hoạt động nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp lúa nước, tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có sự cố kết, gan bó, chia sẻ, trợ giúp lẫn nhau trong các hoạt động xã hội như dap dé, trị thủy. Bên cạnh đó, Việt Nam còn là một đất nước mạnh về tiêu thủ công nghiệp như đệt vai, làm đồ gốm, chăn nuôi. việc nay cũng đòi hỏi sự kết hợp, tương trợ lẫn nhau trong lao động. Bên cạnh đó Việt Nam còn là một đất nước với lịch sử trải dài qua các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước.
Năm ở một vị trí chiến lược quan trọng cùng lượng tài nguyên khóang sản dồi dào, Việt Nam đã luôn trong tầm ngắm của những đề quốc lớn. Chính từ lịch sử hào hùng ấy đã góp phần xây dựng nên những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Dưới góc độ chính trị thì đường lối trị nước của giai cấp cam quyền cũng có đóng góp lớn trong sự hình thành giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Tư tưởng Đức tri của đa phần các vị vua Việt với mong muốn trăm dân êm am, quốc gia thái bình, thịnh trị cũng đã góp phan tạo nên những chuẩn mực đạo đức cơ bản như sự “nhân từ”, “khoan dung”.
từ đó góp phan tạo nên lỗi sống dé cao giá trị đạo đức cao đẹp trong nhân dân. Nền văn hóa Việt Nam góp phần không nhỏ trong việc hình thành các giá trị đạo đức truyền thông của dân tộc với hai giai đoạn: "giai đoạn văn hóa thời tiên sử và 15 giai đoạn văn hóa Văn Lang — Âu Lac mang trong minh đặc trưng của một nên văn hóa hình thành trên cơ sở nông nghiệp lúa nước" [72, tr. Cùng với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử,.đặc sắc của mình, kết hợp với khả năng tiếp thu của một nước nằm trên đường giao thương quốc tế, Việt Nam đã tiếp thu rất nhiều tư tưởng văn hóa của nhân loại. Thông qua việc tiếp nhận, sửa đôi cho phù hợp với cơ sở phát triển đã giúp làm sâu đậm thêm truyền thống yêu nước, thương dân, nhân hậu, đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Tóm lại, những điều kiện tự nhiên, xã hội trên đây là cơ sở hình thành các giá tri truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Đó là hệ giá tri truyền thống đạo đức hết sức đặc sắc, trở thành bản sắc của dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của mình. Theo Giáo sư Vũ Khiêu, nó bao gồm: "Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng thương người và quý trong con người" [49, tr. Theo giáo sư Trần Văn Giàu, giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam bao gồm: “Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [39].
Dai tướng Võ Nguyên Giáp cũng cho rang các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam là: “Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh thần đấu tranh bất khuất chống mọi kẻ thù xâm lược dé làm chủ nước nhà, là đức tính lao động cần cù và bền bi dé làm chủ thiên nhiên; là tinh thần nhân hậu, có kết, chung lưng đấu cật để bảo vệ và xây dựng cộng đồng. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5, khóa VIII khang định các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam là: “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tính cộng đồng gắn kết cá nhân — gia đình — làng xã — đất nước; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đức tinh cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hi sinh cao thượng tat 16 cả vì độc lập tự do, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tế nhị trong cư xử, tính giản di trong lỗi sống. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sé tập trung vào những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, bao gồm năm giá trị lớn như sau: Thứ nhất, tinh than yêu nước: Tinh thần yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực dé phục vụ lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Lénin đã từng khang định: “chi nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cô qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm tôn tại của các tô quốc biệt lập” [52; tr.
Song sự hình thành sớm hay muộn, nội dung cụ thé, hình thức và mức độ biéu hiện của nó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc. Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam là một dòng lịch sử đầy ắp các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Tính theo thời gian lịch sử từ khi bị Triệu Đà xâm lược năm 207 TCN đến khi giải phóng hoàn toàn được dân tộc, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua 1213 năm kháng chiến chống quân xâm lược — chiếm gần hai phần ba thời gian đất nước phát triển.
Trong suốt thời gian này, tinh thần yêu nước đã thúc đây nhân dân ta chiến đấu liên tục, từ đó nhào nặn lên con người Việt Nam, xây dựng lên một dân tộc Việt Nam với một lòng nồng nàn yêu nước.