Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp luật về giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc ở Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC 1. Quyền lực nhà nƣớc và các loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc 1. Quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nƣớc đƣợc hiểu là sức mạnh (hay khả năng) của nhà nƣớc có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia (các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp,…) phải phục tùng ý chí của nhà nƣớc.
Quyền lực nhà nước là quyền lực dựa trên sức 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh của bộ máy nhà nước; là khả năng sử dụng nhà nước để thực hiện ý chí của giai cấp thống trị (hoặc của nhân dân) buộc xã hội phải phục tùng ý chí đó [23, tr. Quyền lực nhà nƣớc chính là quyền lực chính trị đƣợc thực hiện bằng bộ máy nhà nƣớc. Một cách định nghĩa khác cho rằng: Quyền lực nhà nước là thuật ngữ để chỉ "Tiềm năng của chính thể (nhà nước) được tổ chức chính trị (đảng hay liên minh giữa nhiều đảng) hoặc toàn thể công dân tập hợp, xây dựng trong một quốc gia nhằm buộc mọi cá nhân, tổ chức hay toàn xã hội phải phục tùng, hành động hay xử sự theo những quy định nhất định để nhà nước thực hiện đúng các chức năng và quản lý mọi lĩnh vực đời sống xã hội [21]. Đây là cách định nghĩa thiên về chức năng quản lý của quyền lực nhà nƣớc.
Dù định nghĩa theo khía cạnh nào thì quyền lực nhà nƣớc cũng là một hiện tƣợng ra đời và tồn tại gắn liền với nhà nƣớc, là một trong những dấu hiệu cơ bản phân biệt nhà nƣớc với các chủ thể khác trong xã hội. Trong nhà nƣớc hiện đại, quyền lực đƣợc tổ chức và thực hiện dƣới hình thức những quyền năng cụ thể, bao gồm: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tƣ pháp. Các quốc gia trên thế giới ngày nay có cách tổ chức, phân công thực hiện 3 quyền trong quyền lực nhà nƣớc khác nhau. Có nƣớc phân chia 3 quyền độc lập, chế ƣớc lẫn nhau; có nƣớc thực hiện quyền lực nhà nƣớc thống nhất.
Ở nƣớc ta, quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. Về bản chất, toàn bộ quyền lực nhà nƣớc là thuộc về nhân dân. Nhân dân có vai trò “là chủ” quyền lực nhà nƣớc đồng thời có khả năng và điều kiện “làm chủ” quyền lực nhà nƣớc. Hai phƣơng thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nƣớc là: trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện.
Phƣơng thức nhân dân thực hiện quyền lực trực tiếp là việc những ngƣời dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, tham gia thảo luận dự thảo Hiến pháp, pháp luật, trực tiếp thể hiện ý chí của mình khi có trƣng cầu dân ý, … Phƣơng thức này có ƣu điểm là ý chí của nhân dân đƣợc bày tỏ một cách trực tiếp, sinh động, phản ánh sát thực với những nhu cầu và lợi ích của ngƣời dân. Tuy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, hạn chế cơ bản của phƣơng thức này là không phải mọi việc của xã hội đều có thể lấy ý kiến của toàn thể nhân dân, không phải ngƣời dân nào cũng đủ năng lực tham gia vào công việc quản lý chung do sự phân công lao động khác nhau, sự giới hạn của phƣơng tiện thông tin và đòi hỏi tính kịp thời của những quyết định quản lý. Những hạn chế của phƣơng thức thực hiện quyền lực trực tiếp đƣợc khắc phục bằng phƣơng thức nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các cơ quan đại diện. Đây là phƣơng thức chủ yếu, phổ biến ở Việt Nam và nhiều nƣớc khác trên thế giới hiện nay.
Nhân dân thông qua cuộc phổ thông đầu phiếu bầu ra cơ quan đại diện, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực và quản lý xã hội. Thông qua phương thức đại diện, quyền lực nhà nước được thực hiện bằng hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước thuộc các cơ quan đó. Phƣơng thức đại diện có ƣu điểm là những cá nhân ƣu tú đƣợc bầu vào những cơ quan đại diện và những cơ quan do cơ quan đại diện lập ra có đƣợc sự sáng suốt, giải quyết kịp thời và nhanh chóng những vấn đề bức bách của cộng đồng. Tuy nhiên, hình thức đại diện có những nhƣợc điểm cơ bản là: Nguy cơ những cơ quan, cán bộ, công chức nhà nƣớc thực hiện vƣợt quá hoặc không đúng thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, thậm chí có xu hƣớng thoát ly đối với chủ thể quyền lực nhân dân, trở thành những kẻ đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng,… khiến cho quyền lực nhà nƣớc xa rời những lợi ích chính đáng của ngƣời dân.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là bộ máy nhà nƣớc cần đƣợc tổ chức và hoạt động đúng nghĩa là tổ chức thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhƣng không đƣợc tách khỏi nhân dân, đứng trên nhân dân, sai lệch với bản chất quyền lực nhân dân. Mặt khác, yêu cầu của sự ủy quyền là bao giờ cũng có giới hạn. Quyền lực nhà nƣớc luôn luôn phải có sự hạn chế. Quyền lực của các cơ quan cụ thể trong bộ máy nhà nƣớc bị hạn chế càng rõ thể hiện ở việc mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và thẩm quyền nhất định do Hiến pháp, pháp luật quy định trƣớc.
Mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc trong quá trình hoạt động đều phải chịu sự kiểm soát quyền lực bởi những cơ chế thực hiện từ phía các cơ quan trong cùng bộ máy nhà nƣớc hoặc từ phía các chủ thể khác trong xã hội. Một trong những hoạt động quan trọng thuộc cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nƣớc đó chính là giám sát. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số vấn đề chung về giám sát đối với quyền lực nhà nước Trong hệ thống chính trị nƣớc ta, giám sát đƣợc hiểu là một trong những chức năng, nhiệm vụ do một số chủ thể nhất định tiến hành trong quá trình tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dân nhằm bảo đảm cho quyền lực đó đúng định hƣớng, mục tiêu đề ra; các cơ quan mang quyền lực hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, giới hạn thẩm quyền đã quy định.
Giám sát là một hoạt động đặc thù trong số các hoạt động thuộc cơ chế kiểm soát đối với quyền lực nhà nƣớc, cơ chế đó bao gồm: giám sát, thanh tra, kiểm sát, kiểm tra. Bàn về khái niệm giám sát, lý luận và thực tiễn đang có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Theo nghĩa dịch từ Từ điển Tiếng Nga, “Giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi người, việc nào đấy”. Theo Từ điển Hán - Việt do Đào Duy Anh chủ biên thì: “Giám sát là theo dõi và đàn hạch”.
Theo Khoản 1, Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội: “Giám sát (trong Luật này - TG) là việc Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội”. Theo quan điểm của khoa Hành chính học thì giám sát dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, tòa án, các tổ chức xã hội và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội. Giám sát là sự tác động quyền lực nhằm chấn chỉnh những lệch lạc, trái pháp luật, sai trái mục tiêu của một hệ thống đối với một hệ thống khác, nằm ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc [22, tr. Đào Trí Úc, để một cơ chế đƣợc coi là giám sát thì cơ chế đó phải đáp ứng các yêu cầu nhƣ: “Có khả năng giám sát đƣợc toàn bộ hệ thống quyền 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực”, “phải đứng ngoài mà nhìn nhận”, “phải có tính độc lập về mặt pháp lý và phải đảm bảo đƣợc yêu cầu khách quan” [36].
Võ Khánh Vinh, giám sát theo nghĩa rộng là khái niệm để biểu thị “tổng thể các cơ chế xã hội tác động đến hành vi của con ngƣời với mục đích khắc phục các sai lệch khỏi các quy phạm mà xã hội tiếp nhận”. Xã hội loài ngƣời có nhiều dạng giám sát khác nhau, trong đó, giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc là một dạng giám sát, nó vừa có đặc điểm chung vừa mang đặc điểm riêng cả về chủ thể, đối tƣợng và mối quan hệ trong giám sát [41]. Từ những ý kiến, quan điểm nêu trên, có thể rút ra những đặc trƣng cơ bản của hoạt động giám sát và giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc nhƣ sau: (1)- Giám sát là một hoạt động, một quá trình, một loại hành vi với biểu hiện khách quan bên ngoài là sự “theo dõi”, “quan sát”, “xem xét”, “đánh giá” đối tƣợng bị giám sát. (2)- Giám sát là hành động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục của chủ thể giám sát hƣớng đến đối tƣợng bị giám sát.
(3)- Trong quá trình giám sát luôn có sự thu thập thông tin về đối tƣợng giám sát và đối chiếu, nhận xét, đánh giá sự phù hợp trong hoạt động của đối tƣợng với một hệ thống quy phạm nào đó (quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật,…) nhằm mục đích phòng ngừa, chấn chỉnh, khắc phục những sai sót, lệch lạc, đảm bảo cho các quy phạm đƣợc thực hiện đúng trên thực tế. (4)- Giám sát là sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tƣợng giám sát, sự tác động này có tính chất quyền lực, tạo thành mối quan hệ (pháp lý, xã hội) giữa các bên trong quá trình giám sát, trong đó có quyền và trách nhiệm của mỗi bên.