Luận văn thạc sĩ giám sát sự lưu hành của virus cúm a h5n6 trên đàn gia cầm sống tại một số chợ của tỉnh quảng ninh và ứng dụng phương pháp real time rt pcr trong chẩn đoán bệnh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự lưu hành virus cúm A H5N6 trên gia cầm tại Quảng Ninh, ứng dụng phương pháp Real-time RT-PCR trong chẩn đoán bệnh hiệu quả.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giám sát virus cúm A H5N6 trên gia cầm tại Quảng Ninh

Nghiên cứu tập trung vào giám sát virus cúm A H5N6 trên đàn gia cầm tại tỉnh Quảng Ninh, một khu vực có nguy cơ cao do tiếp giáp với Trung Quốc và hoạt động buôn bán gia cầm sống sôi động. Virus cúm A H5N6 được phát hiện lần đầu tại Việt Nam vào năm 2014 và có độc lực cao, có khả năng lây lan nhanh sang người. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Real-Time RT-PCR để phát hiện và chẩn đoán bệnh, nhằm đánh giá sự lưu hành của virus trong các chợ gia cầm sống.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm

Bệnh cúm gia cầm do virus cúm type A gây ra, với các subtype như H5, H7, và H9. Virus cúm A H5N6 có khả năng đột biến gen cao, dẫn đến sự xuất hiện của các chủng mới có độc lực khác nhau. Tại Quảng Ninh, dịch cúm gia cầm xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn về kinh tế và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu đã điều tra tỷ lệ mắc bệnh theo mùa, loại gia cầm, và phương thức chăn nuôi, từ đó đưa ra các biện pháp kiểm soát hiệu quả.

1.2. Phương pháp giám sát và chẩn đoán

Phương pháp Real-Time RT-PCR được ứng dụng để phát hiện virus cúm một cách nhanh chóng và chính xác. Nghiên cứu đã thu thập mẫu từ các chợ gia cầm sống tại Quảng Ninh, phân tích tỷ lệ nhiễm virus cúm type A và các subtype H5, N6. Kết quả cho thấy sự lưu hành của virus cúm A H5N6 qua các tháng lấy mẫu, đồng thời đánh giá hiệu quả của công tác tiêm phòng vacxin cúm A/H5N1 tại địa phương.

II. Ứng dụng Real Time RT PCR trong chẩn đoán bệnh

Phương pháp Real-Time RT-PCR được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán virus cúm do độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nghiên cứu đã ứng dụng kỹ thuật này để xác định sự hiện diện của virus cúm A H5N6 trong các mẫu gia cầm. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm virus cao tại các chợ gia cầm sống, đặc biệt là ở các loại gia cầm nhập lậu. Phương pháp này cũng hỗ trợ đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa cúm và kiểm soát dịch bệnh.

2.1. Nguyên lý và quy trình Real Time RT PCR

Real-Time RT-PCR là kỹ thuật dựa trên phản ứng chuỗi polymerase để khuếch đại và phát hiện RNA của virus cúm. Quy trình bao gồm các bước: chiết tách RNA, tổng hợp cDNA, khuếch đại gen đích, và phân tích kết quả thông qua tín hiệu huỳnh quang. Phương pháp này cho phép phát hiện virus cúm A H5N6 với độ chính xác cao, ngay cả ở nồng độ thấp, giúp hỗ trợ chẩn đoán nhanh và hiệu quả.

2.2. Kết quả và ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm virus cúm A H5N6 cao tại các chợ gia cầm sống ở Quảng Ninh, đặc biệt là vào mùa đông xuân. Phương pháp Real-Time RT-PCR đã chứng minh hiệu quả trong việc kiểm tra virus và hỗ trợ công tác phòng ngừa cúm. Nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến cáo về việc tăng cường giám sát dịch bệnh và cải thiện công tác tiêm phòng vacxin cho đàn gia cầm.

III. Biện pháp kiểm soát và phòng ngừa dịch cúm gia cầm

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm soát dịch cúm gia cầm tại Quảng Ninh, bao gồm tăng cường giám sát dịch bệnh, cải thiện công tác tiêm phòng vacxin, và nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh truyền nhiễm. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch và bảo vệ sức khỏe động vật nuôi cũng như con người.

3.1. Tăng cường giám sát dịch bệnh

Giám sát dịch bệnh là yếu tố quan trọng trong kiểm soát cúm gia cầm. Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường lấy mẫu và phân tích tại các chợ gia cầm sống, đặc biệt là các khu vực có nguy cơ cao. Việc sử dụng phương pháp Real-Time RT-PCR sẽ giúp phát hiện sớm virus cúm A H5N6, từ đó ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

3.2. Cải thiện công tác tiêm phòng vacxin

Tiêm phòng vacxin là biện pháp hiệu quả để phòng ngừa cúm gia cầm. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc tiêm phòng vacxin cúm A/H5N1 tại Quảng Ninh và đề xuất tăng cường công tác này, đặc biệt là ở các huyện có tỷ lệ nhiễm bệnh cao. Việc tiêm phòng đầy đủ sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch và bảo vệ sức khỏe đàn gia cầm.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ giám sát sự lưu hành của virus cúm a h5n6 trên đàn gia cầm sống tại một số chợ của tỉnh quảng ninh và ứng dụng phương pháp real time rt pcr trong chẩn đoán bệnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng sự kết hợp của HA và thị thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm. - Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidae. Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng và giờ (trung bình 6h). Sự tạo thành các hạt virus mời không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apopyosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Wanasawaeng và cs., 2009; Tumpey và cs.

8 - Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen củavirus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription). Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Beard, 1998). Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ (Nguồn: Beard, 1998) Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-poymerase. Các sợi này không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine – gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp vớinucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bao tường tế bào.

Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus, và được enzyme PB2 gắn thêm 10 – 20 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dich mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các proteincủa virus. - Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, goi là hiện tượng “nảy chồi” của virus. NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân lên tế bào để kết hợp với RNA thành RNP của virus. Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với cùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên 9 kết giữa HA với thụ thể chứa sialic acid.

Các NA phân cắt các liên kết này và giải phòng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác (Murphy và Webster, 1996; Nayak và cs. Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm Theo quy định của tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức thú y thế giới (OIE), virus cúm gia cầm chia thành 3 loại: - Loại virus có độc lực cao: Nếu 10 ngày sau tiêm tĩnh mạch cho gà phải làm chết 75 - 100% gà thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào sơ phôi gà và tế bào thận trong môi trường nuôi cấy không có trypsin (Alexander D. - Loại virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây bệnh trên gà thực nghiệm có triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết không quá 20%. - Loại virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch cúm nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và không gây ra bệnh tích đại thể, không làm chết gà (Seo S.

Danh pháp quốc tế Để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng virus cúm phân lập được, từ năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một hệ thống phân loại mới, được quy định ký hiệu theo trình tự: Serotype/loài nhiễm/nơi phân lập/số hiệu chủng/thời gian phân lập/loại hình Subtype HA (H) và NA (N). Ví dụ: Virus cúm có ký hiệu A/GS/HK/437/4/99/H5N1, có nguồn thông tin là: Cúm nhóm A; loài nhiễm là ngỗng (GS = goose); nơi phân lập là Hồng Kông (HK); số hiệu 437; thời gian phân lập tháng 4/1999; Subtype H5N1 (Đào Yến Khanh, 2005). Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm 1. Phân bố dịch Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm, động vật có vú.

Sự phân bố và lưu hành của virus cúm khó xác định chính xác và chịu ảnh hưởng bởi các loài vật nuôi, thú hoang dã, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và hệ thống báo cáo dịch bệnh, phương pháp nghiên cứu (Cục Thú y, 2004). Động vật cảm nhiễm Tất cả các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu), chim hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus. Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm type A. Ngoài ra, virus cúm type A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người.

Lợn mắc bệnh cúm thường do phân type H1N1 và H3N2 gây nên. Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh. Tuy nhiên, năm 1961, ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004; Cục Thú y, 2004). Động vật mang virus Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ sẻ, diều hâu.

Tần suất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm, đặc biệt vịt trời đều cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004). Kết quả điều tra thủy cầm ở Bắc Mỹ cho thấy, trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú. Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các phân type virus cúm A diễn ra ở chim hoang dã, virus không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên ở đường ruột của chim khiến cho các loài này mang virus và là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm (Alexander D. Đã có nhiều nghiên cứu phát hiện virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây.

Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày. Dường như virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hóa, do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao, hồ (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004; Cục Thú y, 2004). Sự truyền lây virus cúm gia cầm Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp và đường tiêu hóa. Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức.

11 - Lây trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các chất được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn, nước uống bị nhiễm virus. - Lây gián tiếp: Qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh. Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi. Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được (Lê Văn Năm, 2004).

Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là từ các loài gia cầm nuôi khác nhau trong cùng một trang trại hoặc các trang trại khác liền kề; từ gia cầm nhập khẩu; từ chim di trú, đặc biệt thuỷ cầm được coi là đối tượng chính mang và truyền virus vào quần thể đàn gia cầm nuôi. Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường di trú của các loài thủy cầm, các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt được nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại. Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt động của thủy cầm di trú. Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên.

Từ người và các động vật có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông qua con người (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004); (Cục Thú y, 2004). Sức đề kháng của virus cúm Virus không bền vững với nhiệt độ, ở 56 - 600C, chỉ vài phút virus mất độc lực. Trong nước ao hồ, virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở nhiệt độ 220C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00C (WebsterR. Tuy nhiên, virus tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà 30 - 35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C.

Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần. Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004). Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete,  - propiolacton. Sau khi tẩy vỏ, các hóa 12 chất như phenolic, NH4+, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm gia cầm.

Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Ilaria Capua và Stefano Marangon, 2004). Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 1. Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi. Thời gian ủ bệnh ngắn thường chỉ vài giờ đến 21 ngày, có thể tới 28 ngày.

Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như khẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, khó thở, chảy nước mũi, nước mắt. Tiếp theo là mí mắt viêm, sưng mọng, phù mặt, phù đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giám sát virus cúm A H5N6 trên gia cầm tại Quảng Ninh và ứng dụng Real-Time RT-PCR là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc theo dõi và phát hiện sớm virus cúm A H5N6 trên đàn gia cầm tại tỉnh Quảng Ninh. Phương pháp Real-Time RT-PCR được áp dụng để đảm bảo độ chính xác cao trong việc xác định sự hiện diện của virus, từ đó giúp ngăn chặn kịp thời nguy cơ bùng phát dịch. Tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về quy trình giám sát mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong công tác phòng chống dịch bệnh.

Để hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong công tác giám sát dịch, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn kiến thức thái độ thực hành về giám sát dịch dựa vào cộng đồng của cộng tác viên y tế và thú y tại 24 xã triển khai dự án thuộc 5 huyện của tỉnh Hưng Yên năm 2012. Tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về cách thức phối hợp giữa các bên trong việc kiểm soát dịch bệnh.