Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm giám sát và phản biện xã hội 1. Khái niệm giám sát Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ “giám sát” được ghi là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” hoặc: “Là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định” [65, tr.
Trong từ điển Tiếng Nga, “giám sát” được hiểu là hoạt động của “Một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi người, việc nào đấy”. Còn “giám sát” theo tiếng Anh là supervision, nghĩa là sự trông nom, sự giám sát, nó chỉ một hoạt động xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống khác, tức là cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc. Hiện nay, thuật ngữ giám sát cũng được được sử dụng phổ biến trong một số văn bản luật của nước ta hiện nay: - Điều 8 Hiến pháp: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng” [70, tr. - Điều 97 Hiến pháp: Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng 10 của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó [70, tr.
- Điều lệ Đảng Cộng sản Việt nam: “Đảng cộng sản Việt nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân” [37, tr. Như vậy, giám sát có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về giám sát như sau: Giám sát là một phạm trù dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định. Từ quan những niệm trên chúng ta thấy giám sát có các đặc trưng cơ bản sau: Một là, giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định. Nghĩa là ai có quyền thực hiện hoạt động giám sát và dựa trên cơ sở nào chủ thể lại có quyền giám sát.
Hai là, giám sát luôn gắn với một đối tượng cụ thể. Nghĩa là chủ thể giám sát phải xác định rõ ràng mình giám sát ai, giám sát việc gì. Từ đối tượng cụ thể đó mà chủ thể xác định nội dung và phương thức giám sát để đạt được mục đích và yêu cầu đặt ra. Ba là, giữa chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát bao giờ cũng có một quan hệ nhất định.
Quan hệ này quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát với đối tượng chịu sự giám sát và ngược lại. Nhưng trước hết, đó là quyền lực của chủ thể đối với đối tượng chịu sự giám sát. Bốn là, giám sát bao giờ cũng phải dựa trên một căn cứ nhất định. Căn cứ đó là những quy định do chủ thể giám sát đặt ra và được đối tượng chịu sự 11 giám sát thừa nhận.
Dựa trên căn cứ đó, chủ thể giám sát mới đưa ra những nhận định, nhận xét về việc làm của đối tượng chịu sự giám sát. Năm là, giám sát là hoạt động có mục đích rõ ràng của chủ thể giám sát. Mục đích của chủ thể giám sát là đưa ra những nhận định chính xác, khách quan dựa trên những căn cứ đã được xác định. Sáu là, giám sát là một quá trình theo dõi thường xuyên, liên tục.
Đó là hoạt động quản lý xã hội nên phải tuân theo những quy định của pháp luật. Trên cơ sở theo dõi, thường xuyên liên tục, chủ thể giám sát mới có được những thông tin một cách có hệ thống. Từ đó mới đưa ra được những nhận định, đánh giá chính xác, khách quan về đối tượng chịu sự giám sát. Cần phân biệt giữa giám sát và kiểm tra: + Kiểm tra là kiểm soát hồ sơ, chứng từ và tra hỏi người đã thực hiện công việc bị kiểm tra.
Kiểm tra là việc làm sau khi sự kiện đã kết thúc, giám sát và kiểm tra khác nhau về thời gian, tra hỏi và kiểm soát hồ sơ. Trái lại giám sát là cùng lúc với sự việc xảy ra, không tra hỏi gì cả, nhật ký công trình đang được thiết lập theo tiến trình thực hiện công việc. + Kiểm tra thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động có đồng nhất với nhau, đó là việc tự kiểm tra chủ thể hoạt động. Nói cách khác, chủ thể tự mình xem xét đánh giá tình trạng tốt xấu của công việc mình đang làm.
Còn giám sát là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu giám sát không nằm trong một hệ thống phụ thuộc nhau. Giám sát phải được tiến hành trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát. Ngoài ra, giám sát cũng phải được tiến hành trên những căn cứ nhất định, nếu như không có những quy định này thì không có cơ sở để chủ thể có quyền thực hiện việc giám sát đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát trong hoạt động giám sát. 12 Đối với giám sát xã hội là hoạt động của xã hội thực hiện việc theo dõi, kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp với hoạt động của HTCT.
Trên cơ sở đường lối, chính sách, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoạt động giám sát thực hiện việc kiểm tra, phát hiện và kiến nghị những điểm không đúng, không phù hợp trong hoạt động của các tổ chức Đảng, đảng viên, các cơ quan, cán bộ công chức từ đó nhằm xây dựng bảo vệ Đảng và Nhà nước. Giám sát xã hội còn nhằm thực hiện việc theo dõi, kiểm tra đối với những hoạt động của Đảng và Nhà nước. Trong hoạt động giám sát cả chủ thể giám sát, đối tượng, nội dung, tính chất hoạt động giám sát đều đa dạng. Giám sát có nhiều loại nhưng cơ bản có hai loại giám sát chủ yếu sau: Một là, giám sát mang tính quyền lực Nhà nước đó là loại hình giám sát được tiến hành bởi chủ thể các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống các cơ quan Nhà nước khác nhau theo những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực Nhà nước.
Hoạt động giám sát này ở nước ta đó là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, là hoạt động giám sát của HĐND các cấp đối với các cơ quan Nhà nước ở địa phương. Hai là, giám sát không mang tính quyền lực Nhà nước đó là hoạt động giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước. Ở nước ta đó là hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam đối với bộ máy Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước. Hoạt động giám sát của MTTQ mang tính đặc thù, không mang tính quyền lực Nhà nước, đó là quyền giám sát của một tổ chức mang tính liên minh chính trị, liên hiệp, phối hợp và thống nhất hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức CT - XH, tổ chức xã hội đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức Nhà nước thông qua việc động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt động giám sát 13 với các cơ quan Nhà nước và tổng hợp ý kiến với cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Hoạt động giám sát của MTTQ là hoạt động mang tính nhân dân, hỗ trợ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát của Nhà nước, là hoạt động giám sát của chủ thể không phải là Nhà nước. Khái niệm phản biện xã hội Khi tìm hiểu thuật ngữ phản biện và PBXH đã có rất nhiều tài liệu của các tác giả, các nhà nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau nên họ đã đưa ra khái niệm phản biện ở những góc độ khác nhau: Theo âm Hán Việt, phản biện được hiểu là “sự bàn luận theo hướng ngược lại”, là sự tranh luận, tranh cãi, là “việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó”. Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ phản biện được nêu là: “Đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị của hội đồng chấm thi” [65, tr. Phản biện là một nội dung hoạt động khoa học, là quá trình đánh giá, phân tích, lập luận, thẩm định chất lượng, nhằm chứng minh, khẳng định, bổ sung hay bác bỏ một phần hay toàn bộ công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc một nhóm người.
Theo cách định nghĩa này, phản biện được hiểu theo nghĩa hẹp, xoay quanh một lĩnh vực nhất định. Ở đây chỉ coi hoạt động phản biện là hoạt động đặc thù chỉ có trong quá trình bảo vệ luận văn hoặc đề tài khoa học, trong khi có rất nhiều hoạt động, lĩnh vực khác cũng rất cần được phản biện. Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, phản biện là một hành vi xác định tính khoa học trong hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó.
Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó.