Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi bổ sung): Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ làm cho NHTM đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng tổ chức kinh tế và cá nhân nói riêng.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động kinh doanh của các NHTM luôn đi kèm với việc có rủi ro có thể xảy ra (rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng,. Do vậy, việc NHTM mở rộng và phát triển hoạt động ngân hàng luôn đồng nghĩa với việc phải chấp nhận sự xuất hiện thêm các loại rủi ro có thể xảy ra. Việc một ngân hàng mất khả năng thanh khoản hay phá sản mang lại hậu quả cho nền kinh tế là rất nghiêm trọng. Theo đó, tại Việt Nam, để ngăn chặn các nguy cơ đổ vỡ, đảm bảo sự an toàn lành mạnh cho toàn nền kinh tế, hoạt động giám sát ngân hàng thương mại được thực hiện chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giám 10 sát ngân hàng.
Thuật ngữ giám sát ngân hàng theo nghĩa rộng, được hiểu là tất cả các hoạt động nhằm bảo đảm cho sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các tổ chức tài chính, bao gồm: định chế, cấp phép, giám sát, thanh tra tại chỗ và cưỡng chế thực thi các hành động chỉnh sửa kịp thời (thực hiện các quyền năng thanh tra giám sát). Trong một số trường hợp, thuật ngữ này cũng bao hàm cả các hoạt động như: thu thập và xử lý thông tin tín dụng, đánh giá và xếp hạng TCTD, bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, … Theo nghĩa hẹp, giám sát ngân hàng có thể chỉ được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan Nhà nước có chức năng thực hiện giám sát, nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ giám sát NHTM của Ngân hàng Nhà nước được hiểu theo quy định tại Khoản 12 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010: giám sát ngân hàng là hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Mục đích của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại Mặc dù với mô hình tổ chức hoạt động giám sát không thống nhất giữa các quốc gia nhưng hoạt động giám sát ngân hàng nhìn chung đều có cùng mục đích: Thứ nhất, hoạt động giám sát ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh, tránh sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng.
Thông qua hoạt động 11 giám sát hoạt động của các NHTM, cơ quan giám sát phát hiện, đánh giá được những rủi ro, vi phạm trong hoạt động ngân hàng từ đó đưa ra những cảnh bảo, quy định về giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; khuyến nghị, yêu cầu ngân hàng thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro, xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng từ đó đảm bảo hoạt động của các ngân hàng an toàn, lành mạnh Thứ hai, thông qua hoạt động giám sát, Cơ quan giám sát ngân hàng duy trì sự ổn định và lòng tin của các bên đối với hệ thống tài chính, nhờ đó giảm được rủi ro cho bên gửi tiền và các bên cho vay khác. Vai trò của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại Dựa trên bản chất hoạt động NHTM cũng như vai trò của các NHTM đối với nền kinh tế, đặc biệt tính nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng tài chính, có thể nhận thấy, hoạt động giám sát của NHNN đối với các NHTM có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, bởi lẽ: Thứ nhất, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng có vai trò hết sức cần thiết đối với các thành phần kinh tế, thực tiễn cho thấy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt động ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển với nhiều tiện ích, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp. Nhiều nhà kinh tế còn quan niệm “ngân hàng là người bạn đồng hành trong cuộc sống của người dân và các tổ chức kinh tế”, tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng như đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của mình, các NHTM luôn phải đối mặt với rủi ro. Việc chấp nhận mở rộng và phát triển kinh doanh của các NHTM cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện các rủi ro trong kinh doanh.
Vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao để đạt được mục tiêu của 12 mình. Nếu rủi ro xảy ra, cũng đồng nghĩa với việc các NHTM phải đối mặt với nguy cơ sụt giảm uy tín, mất khả năng thanh khoản, và thậm chí là đi tới phá sản hay đóng cửa. Điều này đòi hỏi hoạt động ngân hàng phải được sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý để tránh các nguy cơ đổ vỡ, đảm bảo sự an toàn lành mạnh cho hệ thống nói chung và từng NHTM nói riêng. Việc giám sát chặt chẽ các NHTM sẽ giúp cho các NHTM giảm thiểu được rủi ro đối với từng ngân hàng và giúp cho các NHTM hoạt động an toàn, đảm bảo được khả năng chi trả cũng như nghĩa vụ thanh toán của nó tại những thời điểm xác định.
Hơn thế nữa, việc giám sát các NHTM bởi các cơ quan quản lý cũng sẽ đảm bảo rằng các NHTM có đủ mức vốn để trụ vững trước những tác động bất lợi từ môi trường bên ngoài cũng như bên trong của NHTM (Lingdgren 1996). Ngoài ra, việc giám sát chặt chẽ các NHTM còn có vai trò tích cực tới nâng cao trách nhiệm của các NHTM trong việc tăng cường năng lực quản trị rủi ro trong các NHTM, đảm bảo ứng phó tốt nhất đối với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Theo Sluijs (2006), việc giám sát các NHTM không chỉ đơn thuần là đảm bảo cho từng NHTM hoạt động an toàn mà còn đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống. Việc giám sát các NHTM sẽ giúp cơ quan chức năng sớm xác định những nguy cơ tiềm tàng có thể làm tổn thương đến hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn sớm sự bất ổn của hệ thống.
Hơn thế nữa, việc giám sát còn giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, ổn định, thực hiện tốt và hiệu quả việc phân bổ nguồn lực tài chính từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư, các loại rủi ro tài chính được giám sát, đánh giá và quản lý một cách hiệu quả để đảm bảo hệ thống tránh được sự đổ vỡ hàng loạt với số lượng lớn các định chế tài chính. Thứ hai, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Ngân hàng thương mại là nơi tích trữ tiền tiết kiệm hàng đầu của công 13 chúng, đặc biệt là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình, việc thất thoát các khoản vốn này trong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ trở thành thảm họa cho nhiều cá nhân và hộ gia đình. Trong khi đó, người gửi tiền lại thiếu kiến thức chuyên môn về tài chính và thiếu thông tin cần thiết để đánh giá chính xác mức độ rủi ro của ngân hàng, do đó, việc giám sát hoạt động của các NHTM sẽ giúp cho cơ quan quản lý có được những thông tin cần thiết để xác định tình trạng tài chính của ngân hàng để từ đó có những giải pháp phù hợp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền. Thực tế cho thấy, khi ngân hàng đổ vỡ và lây lan đến cả hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng và tác động tiêu cực tới công chúng và toàn xã hội là rất lớn.
Do đó, các Chính phủ thường phải bỏ tiền để ngăn chặn và khắc phục hậu quả, thống kê của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) thì chi phí bỏ ra để ngăn ngừa sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền lợi người gửi tiền không dưới 20% GDP. Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ Các NHTM cần được quản lý chặt chẽ bởi khả năng tạo tiền từ những khoản tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức kinh tế thông qua hoạt động cho vay và đầu tư. Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ do hệ thống ngân hàng tạo ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) cũng như các mục tiêu kinh tế vĩ mô đặt ra. Bên cạnh đó, các rủi ro liên quan đến ngân hàng như nợ xấu cao, mất vốn, mất khả năng chi trả… cũng ảnh hưởng đến ổn định xã hội và gây ra tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát hay cản trở tăng trưởng kinh tế.
Do vậy, việc giám sát chặt chẽ các NHTM sẽ giúp cho Chính phủ và NHNN có thể thực thi CSTT một cách hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra trong ngắn hạn cũng như trung và dài hạn.