phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục viết tắt, danh mục bảng, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm về giám sát dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tƣ công. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác giám sát dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tƣ công của quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác giám sát dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tƣ công của Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
4 CHƢƠNG : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ GIÁM SÁT DỰ ÁN XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƢ CÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về giám sát dự án xây dựng sử dụng vố đầu tƣ cô 1. Các công trình liên quan đến đề tài Dựa trên các nghiên cứu tình huống về quản lý đầu tƣ công của Ngân hàng Thế giới (WB), tác giả Brumby (2008) đã so sánh về hiệu quả và hiệu lực của quản lý đầu tƣ công ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam (Bảng 1. So sánh chất lượng quản lý đầu tư công của Việt Nam với một số nước khác Các c ức ă H Tru V ệt C e Ire a d Braz Be arus N er a quả đầu tƣ cô Quốc Quốc Nam Định hƣớng, xây Trung Trung Trung dựng DA, và sàng Tốt Tốt Tốt Yếu Kém bình bình bình lọc bƣớc đầu Trung Trung Trung Trung TĐDA chính thức Tốt Tốt Tốt Kém bình bình bình bình Đánh giá độc lập đối Trung Tốt Tốt Tốt Yếu Khá Kém Kém với thẩm định bình Lựa chọn và lập Trung Tốt Tốt Tốt Yếu Kém Kém Kém ngân sách DA bình Trung Triển khai DA Tốt Khá Tốt Tốt Yếu Yếu Kém bình Trung Trung Trung Điều chỉnh DA Tốt Tốt Tốt Tốt Kém bình bình bình Vận hành DA Tốt Tốt Tốt Khá Kém Kém Yếu Yếu Đánh giá và kiểm Trung toán sau khi hoàn Khá Khá Kém Kém Kém Kém Kém bình thành DA (Nguồn: Brumby, 2008) 5 Nhìn vào sự so sánh này, có thể thấy rằng chất lƣợng của tất cả các khâu trong quy trình quản lý đầu tƣ công ở Việt Nam đều từ mức trung bình và yếu, trong đó có tới 5/8 khâu ở mức yếu và kém.
Công tác GS, ĐG dự án đầu tƣ (DAĐT) sử dụng VNN (thông qua các bƣớc sàng lọc bƣớc đầu, thẩm định dự án, đánh giá độc lập, triển khai dự án, điều chỉnh, kiểm toán) đều ở mức trung bình và kém, cho thấy công tác GS, ĐG DAĐT chƣa tốt, điều này dẫn tới tình trạng đầu tƣ dàn trải, phá vỡ quy hoạch hoặc không tuân thủ quy hoạch, kéo dài, hiệu quả kém và TTLP…Việc khắc phục yếu kém ở công tác này vì vậy phải trở thành một ƣu tiên quan trọng trong nỗ lực cải thiện hiệu quả quản lý đầu tƣ sử dụng VNN ở Việt Nam hiện nay. Nguyễn Liên Hƣơng (2015) cho rằng: Quá trình đầu tƣ xây dựng bao gồm nhiều bƣớc, công việc rất đa dạng, diễn ra trong thời gian dài dễ dẫn đến những biến động, phát sinh mà chủ đầu tƣ không dự tính hết trong kế hoạch hoặc dự toán ngân sách ban đầu. Việc giám sát dự án giúp cung cấp kịp thời thông tin cho các bên liên quan về tình hình triển khai và kết quả thực hiện dự án, cho phép các cấp quản lý nắm đƣợc diễn biến của quá trình đầu tƣ và có các quyết định về các giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp bảo đảm đạt mục tiêu hiệu quả của dự án. Theo UNDP [10], JICA [11] và CIVICUS [12], giám sát dự án là hoạt động có hệ thống, thƣờng xuyên, liên tục thu thập và phân tích thông tin của quá trình tiến triển một dự án.
Giám sát nhằm mục đích nâng cao hiệu quả và hiệu lực của một dự án. Giám sát đƣợc dựa trên các mục tiêu đã đƣợc thiết lập và hoạt động đã đƣợc dự kiến trong giai đoạn lập kế hoạch dự án. Theo quy định của Việt Nam thì “Giám sát dự án đầu tƣ là hoạt động theo dõi thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất quá trình đầu tƣ của dự án theo các quy định về quản lý đầu tƣ nhằm đảm bảo mục tiêu và hiệu quả của dự án”. Giám sát trong các giai đoạn đầu tư (nguồn: PM4NGOs [13]) Theo đó, giám sát là hoạt động thƣờng xuyên, liên tục trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tƣ.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động này chủ yếu đƣợc tập trung ở giai đoạn thực hiện dự án, còn ở giai đoạn lập dự án hoạt động này rất mờ nhạt, chủ yếu mới ở bƣớc cuối là thẩm tra, thẩm định dự án của chủ đầu tƣ. Cũng theo các tổ chức UNDP, OECD, JICA hay CIVICUS, giám sát là một yêu cầu của nhà tài trợ chứ không phải là một công cụ quản lý. Các nhà tài trợ có quyền biết chắc chắn rằng tiền của họ đang đƣợc chi tiêu đúng và đạt hiệu quả hay không. Thông qua giám sát các tổ chức hoặc bản thân dự án đƣợc theo dõi, kiểm tra có đạt đƣợc mục tiêu và làm thế nào để làm điều đó tốt hơn.
Nguyễn Quốc Toản (2018) cho rằng: Đặc thù hoạt động đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn nhà nƣớc đƣợc giao cho các chủ đầu tƣ thay mặt quản lý, quá trình thực hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp nhƣ quy hoạch, đất đai, tiêu chuẩn kỹ thuật ngành, hiệu quản lý kinh tế xã hội… là nguồn lực dễ thất thoát, lãng phí. Do đó, những dự án ĐTXD sử dụng VNN cần đƣợc quản lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để đảm bảo mục tiêu đầu tƣ, chất lƣợng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm phi phí và đạt đƣợc hiệu quả dự án. 7 Đầu tƣ xây dựng là gắn với quy hoạch xây dựng, quy hoạch xây dựng phải đi trƣớc một bƣớc, là tiền đề cho ĐTXD. Việc ĐTXD phải phù hợp với quy hoạch xây dựng đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt.
Quy hoạch xây dựng là cơ sở cho việc triển khai các hoạt động ĐTXD, kiểm soát quá trình phát triển đô thị và các khu chức năng, đảm bảo trật tự, kỷ cƣơng trong hoạt động xây dựng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trƣờng. Quy hoạch xây dựng là căn cứ cho việc hình thành các dự án và là cơ sở để quản lý ĐTXD và quản lý trật tự xây dựng. Công tác quy hoạch có ảnh hƣởng đặc biệt đến hiệu quả của hoạt động ĐTXD các dự án. Nếu quy hoạch sai sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tƣ.
Quy hoạch dàn trải sẽ làm cho việc xây dựng của chủ đầu tƣ trở nên manh mún, nhỏ lẻ, ít hiệu quả. Quy hoạch cần phải công khai để ngƣời dân và các cấp chính quyền đều biết. Trên cơ sở quy hoạch, nhà nƣớc cần phải đƣa vào kế hoạch đầu tƣ, khuyến khích các khu vực vốn khác tham gia đầu tƣ để tránh tình trạng quy hoạch treo. Đinh Trọng Hùng (2015) cho rằng: Từ giai đoạn 2012 đến 2014, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xây dựng phát triển.
Với riêng ngành xây dựng, giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm 2015 theo giá so sánh 2010 ƣớc tính đạt 313,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2014. Sau giai đoạn khó khăn 2009 – 2013, ngành xây dựng đã có dấu hiệu phục hồi trong thời gian gần đây. Trong quá trình xây dựng, vai trò của hoạt động giám sát rất quan trọng, nó giúp đảm bảo chất lƣợng, tiến độ và an toàn cho công trình. Hoạt động giám sát đầu tƣ của cộng đồng mới bƣớc đầu triển khai nhƣng đã có những kết quả đáng kể.
9 tháng đầu năm 2015, Ban Giám sát đầu tƣ cộng đồng của thành phố Hà Nội đã giám sát đƣợc 1.050 dự án, phát hiện 242 vụ vi phạm, 203 vụ 8 đƣợc xử lý; giám sát trật tự xây dựng đƣợc 2.220 dự án, đề nghị thu hồi 1.735m2 đất, giá trị tiền thu đƣợc 185 triệu đồng. Thực tế cho thấy là trong quá trình thi công xây dựng, có không ít các đơn vị tƣ vấn giám sát không hoàn thành nhiệm vụ của mình, giám sát một cách qua loa, hời hợt hoặc nghiêm trọng hơn là thông đồng với các nhà thầu để thu lợi bất chính. Điều này rất dễ dẫn đến những sai phạm trong quá trình thi công và gây ra những nguy hại rất lớn cho xã hội trong quá trình khai thác và sử dụng công trình. Trong thời gian vừa qua, hàng loạt các vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng đã xảy ra mà nguyên nhân chính không chỉ do nhà thầu mà cả các đơn vị tƣ vấn giám sát không hoàn thành trách nhiệm nhƣ vụ sập giàn giáo tại khu công nghiệp Fomusa Hà Tĩnh, các vụ tai nạn do thép thi công bị rơi trong quá trình thi công dự án đƣờng sắt thí điểm đoạn Nhổn - ga Hà Nội, đƣờng sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông…; ngoài ra, có rất nhiều trƣờng hợp công trình hoàn thành không đảm bảo chất lƣợng hoặc thiết kế không phù hợp đã gây ảnh hƣởng đến điều kiện sinh sống của ngƣời dân tại địa phƣơng.
Tất cả những hiện thực trên đặt ra một nhiệm vụ bức thiết là phải tăng cƣờng công tác giám sát và một trong những giải pháp hiệu quả là cần tăng cƣờng hoạt động giám sát của cộng đồng trong quá trình đầu tƣ xây dựng. Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên đều xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (nhà thầu, chủ đầu tƣ.) và khách quan (cơ chế chính sách, điều kiện thi công thực hiện giám sát dự án. Đây là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp/giải pháp sau này. Nguyễn Tấn Vinh (2019) khẳng định: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nƣớc nói chung, mà cụ thể tại các dự án đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn nhà nƣớc luôn đƣợc các cơ quan quản lý nhà nƣớc quan tâm và thực hiện bằng nhiều giải pháp, trong đó không thể thiếu việc tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng.
Trong đó việc tăng cƣờng hiệu lực quản lý 9 nhà nƣớc đối với hợp đồng xây dựng tại các dự án đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn nhà nƣớc góp phần không nhỏ vào mục tiêu nói trên.