PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính lịch sử và phổ biến đối với mỗi địa phương, quốc gia, dân tộc. Nó đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập (năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ đói nghèo như là một thứ “giặc”, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao động ta thoát được nạn bần cùng, làm cho mọi người đều có công ăn, việc làm, cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Xoá đói giảm nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, mà đó còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua nhờ thực hiện tốt các cơ chế, chính sách có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đẩy mạnh hơn nữa công tác XĐGN, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Do vậy, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước đạt tỷ lệ giảm nghèo tốt nhất. Xã An Phú là một trong 22 xã, thị trấn của huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội.
Được hình thành từ năm 1945 sau khi Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập, địa giới hành chính của xã được chia thành 13 thôn, nằm cách trung tâm huyện Mỹ Đức 12 km về phía tây nam. An Phú là một xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, đời sống chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp là chính. Theo báo cáo nhanh công tác giảm nghèo xã An Phú năm 2015, vào ngày 03 tháng 02 năm 2016 của UBND xã An Phú thì toàn xã hiện nay có diện tích tự nhiên 2227 ha, dân số là 8875 người và 75% dân số của xã là người dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Mường) sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu[46, tr. Góp phần vào mục tiêu chung của chương trình xóa đói giảm nghèo của Thành phố Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung, trong những năm qua huyện Mỹ Đức, xã An Phú đã thực hiện tốt công tác XĐGN và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo của xã 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là 24,5% đến năm 2015 tỷ lệ này đã giảm xuống còn 12%, nhưng đến năm 2016 theo tiêu chí nghèo đa chiều chiều tỷ lệ hộ nghèo của Xã đã tăng lên 710 hộ chiếm 38,4% so với tổng số dân[46, tr.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn những thách thức đặt ra, theo cuộc khảo sát đặc điểm hộ nghèo, hộ cận nghèo (điều tra theo mẫu phiếu C) và nguyện vọng của các hộ nghèo, cận nghèo (điều tra theo mẫu phiếu D) xã An Phú năm 2016 cho thấy các hộ nghèo ở đây còn gặp nhiều khó khăn trong việc thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Nguyên nhân là do thiếu việc làm, thiếu vốn, do ốm đau, do trình độ dân trí còn thấp, do có người mắc TNXH. đặc biệt là hiện tượng tái nghèo đã làm ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của toàn xã. Mặt khác, ở xã An Phú hiện nay thì vấn đề việc làm, thu nhập cũng như điều kiện sinh hoạt, và vấn đề sức khoẻ suy giảm.
đã và đang là những vấn đề hết sức bức xúc đối với các gia đình ở xã nói chung và các gia đình nghèo, cận nghèo nói riêng. Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng tái nghèo của một bộ phận không nhỏ các gia đình trên địa bàn xã. Trước bối cảnh đó, thì việc đánh giá thực trạng đời sống vật chất cũng như tinh thần của các hộ gia đình nghèo trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một vấn đề cấp bách hiện nay trên địa bàn xã, để từ đó vạch ra những nguyên nhân của thực trạng đói nghèo, cũng như những trợ giúp, những dự án, những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư, trong đó có vai trò của Nhân viên CTXH để nhằm giúp đỡ cũng như đề xuất các giải pháp, đưa ra được mô hình nhằm giúp cho người dân nghèo có thể phát huy được những năng lực vốn có của mình, để từ đó có thể tự mình phấn đấu vươn lên thoát khỏi cảnh đói nghèo, cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần cho chính bản thân và gia đình. Vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người dân giảm nghèo” (Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội)” với mong muốn sẽ mang đến góc nhìn mới về XĐGN với vai trò kết nối nguồn lực trong cộng đồng dưới góc nhìn của CTXH và góp phần thúc đẩy giảm nghèo một cách bền vững tại địa phương.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.Các nghiên cứu trên thế giới Xoá đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội: Trong thực tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo. Ở cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo cùng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ. Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội.
Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phươngng, đào tạo việc làm. Vai trò khác là cộng đồng thực hành giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực. Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội. Vào những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác.
Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần. Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình. Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các cá nhân và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ. Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả [59].
Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo: Được nghiên cứu tại Umuebu – Nigeria: Các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình xoá đói chứng minh các quan điểm và 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thành công ở Nigeria. Xóa đói giảm nghèo là một trong những thách thức của Ngân hàng Thế giới và một trong những mục tiêu của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Nghiên cứu này là một nguồn kiến thức cho các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, Ngân hàng Thế giới và cộng đồng quốc tế về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội trong việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo. Khái niệm nghèo tuyệt đối chỉ tình trạng không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và khám chữa bệnh.
Trong khi đó, tình trạng nghèo tương đối lại là một chỉ số về bất bình đẳng: một số người sẽ bị coi là nghèo khi người đó không có được những vật dụng mà đại đa số các thành viên khác của cộng đồng có. Như vậy ở một nước giàu, khi một người nào đó không mua được cả ô tô lẫn máy thu hình thì sẽ bị coi là bị thua thiệt, thế nhưng những vật dụng này lại không phải là thiết yếu để đảm bảo sự sống, và theo định nghĩa nghèo tuyệt đối thì con người đó không hề nghèo. Để tránh tình trạng lẫn lộn này, theo tác giả, nên dùng khái niệm thua thiệt thay cho khái niệm nghèo tương đối và dùng khái niệm đói nghèo thay cho khái niệm nghèo tuyệt đối ở một nước giàu. Khi một cá nhân không có nhiều tài sản có giá trị như 80% hoặc 90% hộ gia đình khác, thì anh ta sẽ cảm thấy bị thua thiệt.
Nhưng cá nhân này không hề “nghèo”, vì chỉ cần 15% của mức thu nhập trung bình ở nơi đó đã đủ để chi cho những nhu cầu thiết yếu của con người. Ngược lại, một số người lang thang cơ nhỡ hoặc một gia đình có con suy dinh dưỡng thì sẽ thuộc diện nghèo. Trong nghiên cứu tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau về bức tranh nghèo khổ giữa những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, và những nước phát triển, đồng thời cũng phân tích rõ những nguyên nhân và chính sách xóa đói giảm nghèo ở 3 nhóm nước này. Từ đó để các 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc gia cần nhận thức rõ được về thực trạng đói nghèo và các yếu tố gây ra nghèo đói của nước mình để từ đó hoạch định những chính sách cho phù hợp [4].