Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn về giảm nghèo bền vững. Chương 2: Thực trạng thực hiện giảm nghèo bền vững tại huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hiệu quả giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.
Một số khái niệm liên quan giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm nghèo Nghèo là từ biểu hiện của cuộc sống của con người, trong đời sống xã hội thì nghèo biểu hiện của sự thiếu thốn từ đói ăn, thiếu mặc và bữa ăn không đủ dinh dưỡng. Ngoài ra còn không đáp ứng tiêu chuẩn thu nhập và chất lượng cuộc sống về chăm sóc sức khỏe y tế, giáo dục, điện, nước sạch,. lẫn đời sống tinh thần của một bộ phận người dân trong xã hội.
Hiện nay có nhiều khái niệm về nghèo, theo Ngô Trường Thi (2014), nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương. Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa về nghèo ở gốc độ đa chiều như sau: “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”[12]. Như góc nhìn của WB thấy được vấn đề nghèo không chỉ ở mặt đời sống xã hội và kinh tế mà còn liên quan tới chính trị, quyền con người trong ấy. Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương".
Khái niệm nghèo là tình trạng hoặc điều kiện của người hoặc gia đình khi họ thiếu hụt tài nguyên và khả năng để đáp ứng cơ bản hoặc cơ đặc biệt của cuộc sống hàng ngày. Tình trạng nghèo có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, bao 8 gồm thu nhập hàng năm, tiêu chuẩn sống, trình độ giáo dục, quyền truy cập vào dịch vụ y tế và giáo dục, và nhiều yếu tố khác. Nghèo thường gây ra sự thiếu hụt trong các khía cạnh quan trọng của cuộc sống, bao gồm: Thức ăn và dinh dưỡng: Những người nghèo thường gặp khó khăn trong việc đảm bảo đủ thức ăn để duy trì sức khỏe tốt. Nhà ở: Họ có thể phải sống trong điều kiện nhà ở kém cỏi, không đủ ấm áp và an toàn.
Giáo dục: Trẻ em trong gia đình nghèo có thể không có cơ hội học tập tốt, dẫn đến kém cỏi trong việc phát triển tiềm năng cá nhân và cơ hội nghề nghiệp trong tương lai. Y tế: Người nghèo thường gặp khó khăn trong việc truy cập dịch vụ y tế chất lượng, dẫn đến tình trạng sức khỏe kém. Cơ hội kinh tế và việc làm: Nghèo có thể gây hạn chế cơ hội kinh tế và làm việc, khi họ không có khả năng tham gia vào nền kinh tế và xã hội một cách tương đương. Xã hội và tinh thần: Nghèo có thể gây ra căng thẳng tinh thần và xã hội, khi người dân cảm thấy bị cách ly và cảm thấy cuộc sống của mình quá thụ động.
Việc giảm nghèo và tạo ra các biện pháp để giúp người nghèo vượt qua tình trạng này đã trở thành một mục tiêu quan trọng trong nhiều chính sách và chương trình xã hội ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Các biện pháp này có thể bao gồm các chương trình trợ cấp, giáo dục miễn phí, dịch vụ y tế công cộng, và cơ hội làm việc. Bộ chỉ tiêu đo chuẩn nghèo Khái niệm “chuẩn nghèo” ở Việt Nam, cũng như ở nhiều quốc gia khác, có thể thay đổi theo thời gian và vị trí địa lý. Nó dựa trên mức sống tối thiểu mà một người hoặc gia đình cần để đảm bảo cơ bản cho cuộc sống hàng ngày.
Việc xác định mức chuẩn mực nghèo thường liên quan đến thu nhập, điều kiện sống và các yếu tố xã hội. 9 Ở Việt Nam, mức chuẩn mực nghèo thường được xác định bởi Chính phủ dựa trên các tiêu chí như thu nhập, tiêu chuẩn sống cơ bản, diện tích đất đai, và các yếu tố xã hội khác. Mức nghèo có thể thay đổi tùy theo địa phương và môi trường kinh tế cụ thể. Một số dự định cơ bản về mức chuẩn mực nghèo tại Việt Nam có thể dựa trên thu nhập hàng tháng cùng nơi ở sinh sống khu vực nông thôn hay thành thị để xác định được đối tượng nghèo.
Mức nghèo đối với nông thôn: Một người được coi là nghèo ở nông thôn nếu thu nhập hàng tháng của họ không đủ để đảm bảo cơ bản như thức ăn, nước uống, giáo dục và sức khỏe. Mức nghèo đối với đô thị: Mức chuẩn nghèo ở đô thị thường cao hơn so với nông thôn do chi phí sống tăng cao. Điều này có thể bao gồm tiêu chuẩn về nhà ở, giao thông, và các dịch vụ khác. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy rằng mức chuẩn mực nghèo có thể thay đổi theo thời gian và điều kiện KT-XH của đất nước.
Chính phủ cũng thường điều chỉnh các tiêu chuẩn này để phản ánh tình hình kinh tế và xã hội hiện tại. Đến nay, Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo qua 08 giai đoạn (1993-1995; 1995-1997; 1997-2000; 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015; 2016-2020, 2021-2025) và hiện nay bộ chỉ tiêu đo chuẩn nghèo giai đoạn 2021-2025 cụ thể: Hiện nay mức đo lường chuẩn nghèo đa chiều được quy định tại khoản 1, Điều 3, Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ ban hành năm 2021 quy định về chuẩn nghèo giai đoạn 2021-2025. Mức đo lường chuẩn nghèo gồm 2 nhóm yếu tố, thứ nhất quy định về mức tiêu chí thu nhập từng khu vực với thành thị mức thu nhập 2.000 đồng/người/tháng, với khu vực nông thôn mức thu nhập 1.000 đồng/người/tháng; yếu tố thứ hai về tiêu chí thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số). Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt trong chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025[1].
Dịch vụ xã hội Chỉ số đo lường mức độ cơ bản thiếu hụt dịch vụ xã hội Ngưỡng thiếu hụt (Chiều thiếu cơ bản hụt) Hộ gia đình có ít nhất một người không có việc làm; hoặc có việc làm Việc làm công ăn lương nhưng không có hợp đồng lao động. Hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc trong tổng số nhân khẩu lớn hơn 1. Người phụ thuộc bao gồm: trẻ Người phụ thuộc trong hộ em dưới 16 tuổi; người cao tuổi hoặc gia đình người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Hộ gia đình có ít nhất một trẻ em dưới 16 tuổi suy dinh dưỡng chiều Dinh dưỡng cao theo tuổi hoặc suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi.
Y tế Hộ gia đình có ít nhất một người từ đủ 6 tuổi trở lên hiện không có bảo Bảo hiểm y tế hiểm y tế. Hộ gia đình có ít nhất một người trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi Trình độ giáo dục của không tham gia các khóa đào tạo người lớn hoặc không có bằng cấp, chứng chỉ giáo dục đào tạo so với độ tuổi tương ứng. Giáo dục Tình trạng đi học của trẻ Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em từ 3 11 em tuổi đến dưới 16 tuổi không được học đúng bậc, cấp học phù hợp với độ tuổi. Hộ gia đình đang sống trong ngôi nhà/căn hộ thuộc loại không bền Chất lượng nhà ở chắc.
Nhà ở Diện tích nhà ở bình quân Diện tích nhà ở bình quân đầu người đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2. Hộ gia đình không tiếp cận được Nguồn nước sinh hoạt nguồn nước sạch trong sinh hoạt chất 5. Nước sinh lượng theo tiêu chuẩn hoạt và nhà vệ Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà sinh Nhà tiêu hợp vệ sinh tiêu hợp vệ sinh Sử dụng dịch vụ viễn Hộ gia đình không có thành viên nào thông sử dụng dịch vụ internet Hộ gia đình không có phương tiện 6. Thông tin Phương tiện phục vụ tiếp nào trong số các phương tiện phục vụ cận thông tin tiếp cận thông tin.
Chuẩn Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình a. Hộ nghèo Hộ nghèo là hộ có các thành viên gia đình cùng có điều kiện kinh tế và đời sống gia đình trong xác định trong mức chuẩn hộ nghèo tại điểm a, khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 07/2021/NĐ-CP. Đối với khu vực nông thôn thì hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên; khu vực thành thị hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên[1]. Hộ cận nghèo 12 Hộ cận nghèo là trong hộ có các thành viên gia đình cùng có điều kiện kinh tế và đời sống gia đình thuộc mức xác định chuẩn hộ cận nghèo tại điểm b, khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Nghị định số 07/2021/NĐ-CP.
Đối với khu vực nông thôn thì hộ cận nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; khu vực thành thị thì hộ cận nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản[1]. Hộ có mức sống trung bình Hộ có mức sống trung bình là trong hộ có các thành viên gia đình cùng có điều kiện kinh tế và đời sống gia đình thuộc mức xác định chuẩn hộ có mức sống trung bình tại điểm c, khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 07/2021/NĐ-CP. Đối với khu vực nông thôn thì hộ có mức sống trung bình là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.