Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm Chính sách Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”. Khái niệm Chính sách công Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm Chính sách công.
Luận văn sử dụng khái niệm Chính sách công trong nghiên cứu và giáo trình giảng dạy “Tổng quan về chính sách công” của PGS. Hồ Việt Hạnh, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, theo đó “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng”. Khái niệm Nghèo Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Nghèo được xác định là nghèo theo thu nhập. Người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia”.
Theo tổ chức Ngân hàng Thế gới (WB): ‘‘Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ sổ dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giảo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không cỏ quyền phát ngôn và không có quyền lực” [20]. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì “Nghèo được xác định là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. 8 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo được điều chỉnh theo từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu chí này ở Việt Nam hiện nay là tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Thứ nhất, tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Thứ hai, tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ); y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): Tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [18].
Chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 được quy định theo khu vực, cụ thể như sau: Khu vực nông thôn: Hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị: Hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khái niệm Giảm nghèo Từ khái niệm Nghèo nêu trên, khái niệm Giảm nghèo được chúng tôi rút ra là “Giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống; ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo này được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người hay hộ không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; ở cấp hộ gia đình, giảm nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình; hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo”. 9 Khái niệm về Giảm nghèo bền vững Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “Giảm nghèo bền vững”, tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm này đã được sử dụng lần đầu tiên trong “Báo cáo Giảm nghèo Quốc gia năm 2008”.
Giảm nghèo bền vững được chúng tôi hiểu là “Tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo”. Khái niệm về Chính sách Giảm nghèo bền vững Từ các khái niệm trên, theo chúng tôi, khái niệm Chính sách Giảm nghèo bền vững được hiểu “Là hệ thống chính sách được tích hợp trong nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật khác nhau ở Trung ương và địa phương có liên quan với nhau nhằm tác động lên đối tượng là người nghèo, hộ nghèo ở các địa bàn, khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiể số có điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, giúp họ vươn lên thoát nghèo, không tái nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, miền, giữa nông thôn và thành thị…”. ỞViệt Nam, Chính sách giảm nghèo bền vững là hệ thống chính sách được tích hợp trong nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật khác nhau ở Trung ương và địa phương, nhưng tập trung nhất trong 02 Chương trình mục tiêu quốc gia đó là Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới. Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững đã được thực hiện bởi hai giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020.
Từ năm 2016, Chuẩn nghèo mới, tiếp cận đa chiều được áp dụng để đo lường tình trạng nghèo của hộ gia đình một cách đầy đủ và tổng thể. Bên cạnh yếu tố thu nhập, sự thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin truyền thông) được đưa vào đánh giá 10 tình trạng hộ nghèo. Các chính sách giảm nghèo đã từng bước được điều chỉnh theo hướng ưu tiên cả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; ngoài các chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế đối với hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Giảm nghèo đã gắn kết với tạo sinh kế, việc làm, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động.
Chủ thể và chu trình thực hiện chính sách Chủ thể thực hiện chính sách: Cấp Trung ương: Đảng Cộng sản Việt Nam (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan ở Trung ương có liên quan (trực tiếp là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội). Cấp địa phương (từ cấp tỉnh đến cơ sở): Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các ngành chức năng có liên quan (trực tiếp là ngành lao động, thương binh và xã hội), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội liên quan lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Cán bộ công chức làm công tác liên quan đến giảm nghèo. Chu trình thực hiện chính sách: Một là, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, có mục tiêu và thời gian cụ thể hoàn thành Kế hoạch thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là cơ sở, công cụ quan trọng triển khai đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống.
Trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong tổ chức điều hành; cung cấp các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách; kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách. Hai là, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, vận động thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 11 Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước. Sau khi Kế hoạch được cơ quan có thẩm quyền thông qua, các cơ quan, đơn vị có liên quan từ Trung ương đến cơ sở tiến hành tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương, đơn vị mình. Qua công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách về giảm nghèo và mục tiêu giảm nghèo bền vững với nhiều hình thức như tổ chức các hội nghị quán triệt, triển khai các lớp tập huấn, tuyên truyền bằng các phương tiện thông tin đại chúng,… nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác giảm nghèo; phát huy mạnh mẽ truyền thống đoàn kết, tinh thần “tương thân, tương ái” của dân tộc ta đối với người nghèo; động viên, hướng dẫn người nghèo, hộ nghèo có kiến thức, kinh nghiệm trong lao động, sản xuất, chủ động vươn lên thoát nghèo, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, phát huy nội lực vươn lên “thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no” của người dân và cộng đồng.
Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động cho phù hợp với điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị. Ba là, phân công, phối hợp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Chính sách giảm nghèo bền vững thực hiện nhiều mục tiêu, mang tính liên ngành, có sự phân công, phối hợp thực hiện của nhiều ngành, nhiều cấp ở nhiều lĩnh vực khác nhau; các chủ thể tham gia vào quá trình này rất phong phú, bao gồm các đối tượng của chính sách (như: Người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo, địa phương nghèo…), các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và đối tượng khác.