Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nghèo Nghèo là khái niệm được biết đến từ khá lâu, được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay định nghĩa nào hoàn chỉnh, thống nhất.
Khái niệm nghèo được hiểu và thay đổi theo thời gian, từng khu vực. Một số khái niệm nghèo được biết đến như sau: - Một số quan điểm của Thế giới: Quan niệm về nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng thụ và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phương” Quan niệm nghèo đói tại Hội nghị Copenhagen, Đan Mạch: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla (USD) mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Quan niệm Ngân hàng thế giới: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như là: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục khả năng dễ bị tổn thương không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.[21] - Một số quan điểm của Việt Nam: Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn tập trung nhất vào khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.
Theo đó, “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng thụ nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu giành cho con người và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng dân cư xét trên mọi phương diện. Thiếu cơ hội lựa chọn, quyết định và tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Nghèo bao gồm các loại sau: 11 + Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc ở và sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo dục, giao tiếp.
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1-2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. + Nghèo đa chiều: Được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu trong cuộc sống. Khái niệm hộ nghèo Hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 17/2016/TT- BLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
Theo đó, hộ nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo trên địa bàn, cụ thể: - Hộ nghèo khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ nghèo khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.[21] Như vậy, từ việc phân tích trên, trong nghiên cứu này, hộ nghèo được hiểu là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn hoặc bằng chuẩn nghèo theo sự rà soát và đánh giá hàng năm của địa phương. Khái niệm người nghèo Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về người nghèo. Vì vậy, trong nghiên cứu này, người nghèo được hiểu là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản lý hộ nghèo của UBND cấp xã.
Khái niệm giảm nghèo Giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay của một địa phương nào đó. Trong đó, bên cạnh việc xóa bỏ dạng nghèo cùng cực, thì giảm nghèo là yêu cầu có tính then chốt. Giảm nghèo không chỉ đơn thuần là việc tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn phải tăng mức độ thụ hưởng trong các dịch vụ xã hội khác thì mới đúng là thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Chính sách giảm nghèo phải làm sao để hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo không rơi xuống dưới ngưỡng nghèo đói.
Bên cạnh sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng thì từng đối tượng nghèo cũng phải nỗ lực vươn lên, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự giúp đỡ và “không muốn thoát nghèo” để hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước. Như vậy, giảm nghèo được hiểu là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà nước, của xã hội để triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người. Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Khái niệm giảm nghèo bền vững 1.
Đặc điểm của người nghèo Dựa trên các tiêu chí xác định hộ người, người nghèo có một số đặc điểm cơ bản của người nghèo như sau: Thứ nhất, về thu nhập: người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn với mức thu nhập thấp do đặc điểm công việc đem lại. Họ thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay, công việc vất vả nhưng thu nhập không được bao nhiêu. Hơn nữa, những công việc này lại không ổn định, bấp bênh, nhiều công việc 13 có tính thời vụ và rủi ro cao do phụ thuộc đến thời tiết (nắng, mưa, lũ lụt, hạn hán. Đặc biệt các nghề trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
Hệ quả của việc thu nhập thấp trong khi mức chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo ngày một tăng, các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp. Thứ hai, về y tế - giáo dục: Đây là vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng như tương lai của họ và gia đình nhưng do thu nhập thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí, họ đành phải để con cái thôi học, người bệnh không được khám và chữa chạy đúng mức, kịp thời, hầu hết các người nghèo không được tiếp cận với các dịch vụ y tế. Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ, giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau. Thứ ba, về nguy cơ bị tổn thương: Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn con người.
Nguy cơ này chính là việc người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học. Nói cách khác, tình thiếu thốn của người nghèo khiến họ rất dễ bị tổn thương. Thứ, tư không có tiếng nói và quyền lực: Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tước đi những quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên được hưởng.
Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình. Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại. Nguyên nhân và nhân tố tác động đến nghèo đói Hậu quả của nghèo đói thường xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau những có thể chia nghèo đói ra thành 03 nhóm nguyên nhân như sau: - Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực. 14 - Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau và được cụ thể như sau: + Thiếu vốn sản xuất: là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân cư nghèo.
Khoảng 91,53% hộ nghèo là thiếu vốn, nông dân nghèo vốn thấp làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc phải đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có vốn để sản xuất, không được vây ngân hàng vì không có tài sản thế chấp. + Không có hoặc ít kinh nghiệm làm ăn: Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế.