Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng

Luận văn phân tích toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Bảo Lạc, Cao Bằng. Bao gồm số liệu và kiến nghị cụ thể.

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

140
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng giảm nghèo bền vững ở Bảo Lạc

Bảo Lạc, huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng, đang đối mặt với thách thức nghèo đa chiều. Tính đến năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, chủ yếu tập trung ở các vùng sâu và vùng xa. Nguyên nhân chính bao gồm hạn chế về cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, và cơ hội việc làm. Cộng đồng địa phương, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công cộng và phát triển kinh tế.

1.1. Tình hình kinh tế xã hội hiện nay

Nền kinh tế Bảo Lạc chủ yếu dựa vào nông nghiệp truyền thống với năng suất thấp. Tỷ lệ thất nghiệp cao, đặc biệt ở nhóm thanh niên. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, gây khó khăn cho tiếp cận thị trường. Tỷ lệ hộ không có nước sạch và điện lưới vẫn ở mức đáng lo ngại.

II. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng nghèo

Giảm nghèo bền vững ở Bảo Lạc đòi hỏi hiểu sâu các nguyên nhân gốc. Các yếu tố tự nhiên như địa hình núi cao, khí hậu khắc nghiệt làm hạn chế sản xuất nông nghiệp. Về nhân lực, tỷ lệ học vấn thấp, kỹ năng lao động không phù hợp. Thiếu vốn khởi nghiệp và cơ sở vật chất là rào cản lớn. Chính sách phát triển chưa phù hợp với đặc thù địa phương.

2.1. Các yếu tố tự nhiên và nhân lực

Địa hình núi cao, đất đai ít màu mỡ hạn chế sản lượng nông sản. Mạng lưới giao thông chưa hoàn thiện khiến chi phí vận chuyển cao. Lao động không có kỹ năng chuyên môn không thể chuyển hướng sang các lĩnh vực sinh lời khác.

III. Các giải pháp giảm nghèo bền vững

Để giảm nghèo bền vững ở Bảo Lạc, cần thực hiện các giải pháp toàn diện. Đầu tiên, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước sạch. Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề phù hợp với thị trường lao động. Thứ ba, hỗ trợ phát triển sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, du lịch sinh thái. Cuối cùng, tạo điều kiện tiếp cận tín dụng nhỏ và vốn khởi nghiệp.

3.1. Phát triển hạ tầng và giáo dục

Ưu tiên xây dựng đường giao thông kết nối các xã miền núi. Mở rộng cấp điện, nước sạch đến toàn bộ hộ gia đình. Xây dựng các điểm học tập cộng đồng, trung tâm đào tạo nghề. Hỗ trợ học bổng cho con em dân tộc thiểu số.

3.2. Phát triển kinh tế bền vững

Khuyến khích nông nghiệp hữu cơ, trồng cây lâu năm có giá trị cao. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản địa phương. Khai thác tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các chính sách ưu đãi.

IV. Kết luận và triển vọng phát triển

Giảm nghèo bền vững ở Bảo Lạc là quá trình dài, cần sự phối hợp của chính quyền, cộng đồng và các tổ chức. Những giải pháp toàn diện kết hợp phát triển hạ tầng, giáo dục và kinh tế sẽ tạo nên sự thay đổi. Cần đặc biệt chú trọng bền vững môi trường, bảo vệ các giá trị văn hóa địa phương. Với nỗ lực chung, Bảo Lạc có triển vọng vươn lên, cải thiện đáng kể đời sống người dân.

4.1. Những bước tiến và kỳ vọng

Các chương trình hỗ trợ từ Nhà nước và xã hội dân sự đã mang lại kết quả ban đầu. Tỷ lệ hộ được tiếp cận dịch vụ công cộng tăng lên. Cần tiếp tục đầu tư, mở rộng các dự án thành công. Trao quyền cho cộng đồng để các hộ có tiếng nói trong hoạch định chính sách.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về việc giảm nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều 1. Cơ sở lý luận về khái niệm “nghèo”. Khái niệm chung Khái niệm “nghèo” nói chung dùng để miêu tả sự thiếu thốn về vật chất hoặc cơ hội để có thể duy trì cuộc sống đạt chuẩn thieu một mức tối thiểu nhất định.

Định nghĩa cụ thể của “nghèo” có nhiều sự khác nhau tương ứng với từng khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, “nghèo” được phân chia thành “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”. + Nghèo tuyệt đối: Theo định nghĩa của Robert McNamara – giám đốc của Ngân hàng Thế giới (World Bank), nghèo tuyệt đối hay “nghèo ở mức độ tuyệt đối” ám chỉ việc sinh sống của con người ở mức tối thiểu của giới hạn tồn tại. Những cá nhân nghèo tuyệt đối phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn tồi tệ, tình trạng bỏ bê, và sự mất phẩm cách mà vượt quá tưởng tượng của giới tri thức về cảnh ngô may mắn.

+ Nghèo tương đối: Khái niệm “nghèo tương đối” được định nghĩa là sự thiếu thốn tiềm lực vật chất và phi vật chất của những cá nhân thuộc về một tầng lớp xã hội nhất định so với bối cảnh tiêu chuẩn của sự sung túc. Tình trạng này có thể do lý do khách quan như sự xa cách về mặt địa lý đối với các dịch vụ xã hội căn bản, khó khăn về mặt địa hình núi cao phức tạp, thời tiết khắc nghiệt … Tuy nhiên, tình trạng nghèo tương đối cũng có thể do những nguyên nhân chủ quan như lười biếng, không tu chí làm ăn, phung phí tài sản và nguyên vật liệu … Nhìn chung, thực trạng nghèo do thiếu thống về cả vật chất hoặc phi vật chất, khiến cho trình độ văn hóa – xã hội, khả năng tài chính, và mức sống nói chung đi xuống là một thách thức nghiêm trọng đối với bất kỳ khu vực và quốc gia nào. Những tiêu chí đánh giá mức độ nghèo đói a) Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới: Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm, gồm các tiêu chí: (1) Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index) được ban hành trong Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc; (2) tiêu chí đánh giá mức độ nghèo đói theo đường nghèo; (3) tiêu chí đánh giá mức độ nghèo theo các khoản dùng để chi tiêu tối thiểu cho nhu cầu sinh sống cơ bản của con người; (4) tiêu chí đánh giá đói nghèo theo thu nhập bình quân đầu người (GDP); (5) chỉ số nghèo khổ tổng hợp; và (6) chỉ số nghèo đa chiều. b) Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo ở Việt Nam Chuẩn nghèo của Việt Nam được áp dụng trong từng giai đoạn từ 1993 cho đến 2025 được thể hiện qua bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.

Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo 1. Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức Vùng nông thôn Kg gạo/người/tháng 15 Vùng thành thị Kg gạo/người/tháng 20 2. Giai đoạn 1995-1997 Vùng nông thôn miền núi, Kg gạo/người/tháng 15 hải đảo Vùng nông thôn đồng Kg gạo/người/tháng 20 bằng, trung du Vùng thành thị Kg gạo/người/tháng 25 3. Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, Đồng/người/tháng 55.000 hải đảo 22 Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo Hộ nghèo Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 70.000 đồng bằng, trung du Vùng thành thị Đồng/người/tháng 90.

Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, Đồng/người/tháng 80.000 hải đảo Vùng nông thôn đồng Đồng/người/tháng 100.000 bằng, trung du Vùng thành thị Đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 200.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 400.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 500. Tiêu chí về thu nhập Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 700.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 900.

Tiêu chí mức độ thiếu Thiếu thốn khả năng tiếp cận 05 dịch vụ, bao gồm hụt cơ hội tiếp cận các dịch giáo dục, y tế; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông vụ xã hội căn bản: tin viễn thông. Thiếu hụt 10 chỉ số, bao gồm cơ hội tiếp cận y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, cơ hội đi học của con trẻ, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, chất lượng nước sinh hoạt, chất lượng vệ sinh của nhà xí/cầu tiêu, cơ hội sử dụng dịch vụ viễn thông, và những tài sản phục 23 Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo vụ cho việc tiếp cận thông tin viễn thông. Tiêu chí về thu nhập Khu vực nông thôn Đồng/người/tháng.000 Khu vực thành thị Đồng/người/tháng. Tiêu chí mức độ Bao gồm 06 dịch vụ xã hội cơ bản: giáo dục, y thiếu hụt các dịch vụ xã tế, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin hội căn bản viễn thông, và việc làm.

Có 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội căn bản, bao gồm: số người phụ thuộc trong hộ gia đình, việc làm, dinh dưỡng, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng tiếp cận giáo dục của con trẻ, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, chất lượng nước sinh hoạt, nhà xí hợp vệ sinh, cơ hội tiếp cận dịch vụ viễn thông, và tài sản phục vụ việc tiếp cận thông tin viễn thông. Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH (2015, 2021); Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và Quyết định số 170/2005/QĐ-TT; Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg); Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ Quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025; 1. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói - Về khách quan: + Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, đất canh tác ít, khí hậu khắc nghiệt, thời tiết diễn biến phức tạp, thường xuyên bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh gia súc, 24 gia cầm diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập của hộ gia đình. + Điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương còn khó khăn, kết cấu cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng cho phát triển; môi trường tiêu thụ sản phẩm của hộ gia đình còn khó khăn.

- Về chủ quan: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của hộ gia đình, như: Thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm sản xuất, phong tục lạc hậu; Gia đình đông con; Thiếu sức lao động; Thiếu vốn, đất đai, tư liệu sản xuất; ốm đau, bệnh tật; Gia đình có người nghiện ma túy v. Ngoài những nguyên nhân cơ bản kể trên, tình trạng nghèo đói còn có thể xuất hiện khi thiếu thốn cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội căn bản như giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh, và thông tin viễn thông. Mức độ thiếu hụt được xác định phụ thuộc vào các chỉ số như số nhân khẩu phụ thuộc trong hộ gia đình, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, cơ hội đi học của con trẻ, dinh dưỡng, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, chất lượng nước sinh hoạt, chất lượng của nhà xí/cầu tiêu, cơ hội tiếp cận dịch vụ viễn thông, và tài sản phục vụ cho việc tiếp cận thông tin viễn thông. Cơ sở lý luận về khái niệm nghèo đa chiều 1.

Khái niệm chung “Nghèo đa chiều” là khái niệm mô tỏ sự thiếu hụt về năng lượng thụ hưởng các lợi tức của một nền kinh tế - xã hội hoặc sự thiếu thốn trong việc thỏa mãn các nhu cầu sinh sống cơ bản trong phạm vi nhân quyền như giáo dục, y tế, và các điều kiện sống tối thiểu. Việc giảm nghèo đa chiều là nỗ lực của các chính sách giảm thiểu số lượng cá nhân và tập thể nghèo dựa trên nhiều khía cạnh, đồng thời tập tủng vào từng khía cạnh bị thiếu hụt. 25 Có 02 tiêu chí dùng cho việc định chuẩn nghèo đa chiều: Thu nhập và Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội căn bản. Các tiêu chí sử dụng đo lường chỉ số nghèo đa chiều Chiều Tiêu chí 1.

Tình trạng đi học (trẻ em) 2. Trẻ em tử vong 2. Tình trạng dinh dưỡng 3. Điều kiện vệ sinh 3.

Nước uống hợp vệ sinh 3. Điều kiện sống 3. Nhiên liệu nấu ăn 3. Sở hữu tài sản (Nguồn: Bộ LĐTB và XH-2015) 1.

Chuẩn nghèo đa chiều Thủ tướng Chính phủ đã quy định các tiêu chí dùng để đo lường mức độ nghèo đói đa chiều thông qua Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, được ban hành vào ngày 19/11/2015. Đây cũng là tiêu chuẩn được áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Cụ thể có 02 tiêu chí lớn như sau: - Về thu nhập + Mức thu nhập bình quân đầu người 700.000đ/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000đ/tháng ở khu vực thành thị được sử dụng cho chuẩn nghèo. + Mức thu nhập bình quân đầu người 1.000đ/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000đ/tháng ở khu vực thành thị được sử dụng cho chuẩn cận nghèo.

- Về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản + 05 dịch vụ xã hội căn bản: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt, và thông tin. 26 + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản Dựa trên hai tiêu chí kể trên cũng như Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, có thể tổng hợp mức sống của 03 loại hộ gia đình thuộc diện nghèo, cận nghèo, và trung bình trong giai đoạn 2016 – 2020 như sau: (1) Hộ nghèo - Ở khu vực nông thôn, các hộ nghèo đáp ứng một trong hai tiêu chí dưới đây + Có thu nhập bình quân đầu người từ 700.000đ/tháng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người từ 700.000đ/tháng đến 1.000đ/tháng nhưng thiếu ít nhất 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội căn bản trở lên. - Ở khu vực thành thị, các hộ nghèo đáp ứng một trong hai tiêu chí dưới đây: + Có thu nhập bình quân đầu người từ 900.000đ/tháng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người từ 900.000đ/tháng đến 1.000đ/tháng nhưng thiếu ít nhất 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội căn bản trở lên. (2) Hộ cận nghèo - Ở khu vực nông thôn, các hộ cận nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 700.000đ/tháng đến 1.000đ/tháng và thiếu ít hơn 03 chỉ só đo lường mức độ thiếu hụt cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội căn bản.

- Ở khu vực thành thị, các hộ cận nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 900.000đ/tháng đến 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ