Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hộ nghèo và công tác giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Chương 4: Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm chung về nghèo 1. Khái niệm về nghèo Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận".(Báo cáo số 21/LĐTBXH-BTXH ngày 25/4/2005 của Bộ Lao động- Thương binh xã hội về chuẩn nghèo giai đoạn 2006-20101.
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại "2. Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực"3. Nghèo được định nghĩa như là “sự thiếu hụt, hay sự bất lực trong việc tiếp cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận”4.
Định nghĩa về nghèo của Engberg-Pedersen (1999), (Blockhus và cộng sự, 2011): “Người nghèo là những người không thể khai thác được các cơ hội vì thiếu năng lực và nguồn lực và bị phụ thuộc vào người khác”. Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo là tình trạng không có khả năng để có mức sống tối thiểu, chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng.vn/archive/Bao-cao-21-LDTBXH-BTXH-chuan-ngheo-giai-doan-2006-2010 2 http://voer.vn/m/khai-niem-ngheo-va-chuan-muc-ngheo 3 http://voer.vn/m/khai-niem-ngheo-va-chuan-muc-ngheo 4 Trích bởi FAO, 2005, trang 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện”5. Vấn đề nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại.
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. + Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Tất cả những khái niệm trên, có thể nhận thấy đều phản ánh những khía cạnh chủ yếu của người nghèo: + Thứ nhất, người nghèo không được đáp ứng nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. + Thứ hai, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
+ Thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng, xã hội. Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo - Theo cách tiếp cận hẹp: Nghèo là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác6. Với cách tiếp cận này mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại hiện tượng nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất. Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay.
Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề. Tức là cơ chế nội tại của 5 Truongchinhtriyenbai.vn/files/CD%209.doc 6 http://voer.vn/m/van-de-ngheo-doi/fd661858 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 nền kinh tế đang hàng ngày, hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống. - Theo cách tiếp cận rộng: Vấn đề nghèo theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội7.
Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định. Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo như thế nào? Từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo. Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo hiện nay Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo. Cách đánh giá mức độ nghèo đói hiện nay là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó.
Ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu dành cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi, giải trí và các hoạt động văn hoá khác.
Do vậy khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, linh hoạt tùy theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế. - Quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ tiêu dùng 7 http://voer.vn/m/van-de-ngheo-doi/fd661858 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực, thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác. WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người. Cụ thể: + Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực.
Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo cho mỗi người mỗi ngày (gồm 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực. + Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung. Cách xác định ngưỡng nghèo chung: Ngưỡng nghèo chung = (ngưỡng nghèo lương thực) + (ngưỡng nghèo phi lương thực). - Quan điểm của Liên Hợp quốc (LHQ): Nghèo đói chịu tác động của nhiều nhân tố, để làm căn cứ để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia, LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo khổ Human Poverty Index (HPI).
Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại. Giá trị HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao nhiêu phần dân số nước đó. - Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng rổ hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm. Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo.
Theo ILO thì có thể thu được nhiều calo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn calo rẻ nhất. ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lệ lương thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% calo từ gạo và 25% calo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. - Quan điểm của Tổng cục thống kê Việt Nam: Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việt Nam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người.
Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.