Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự Thuật ngữ giám định có nguồn gốc chữ La tinh là “Expertis”, có nghĩa là xem xét, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra, làm rõ, chứng minh, kết luận. Đó là quá trình các chủ thể dùng các kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm thực tiễn để nghiên cứu, xét nghiệm, so sánh và kết luận về một người, vật thể, sự việc, hiện tượng.
giúp cho cơ quan, cá nhân trưng cầu, yêu cầu giám định có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở khoa học. Giám định có nhiều lĩnh vực như: giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, giám định kỹ thuật hình sự, giám định văn hóa, giám định tài chính- kế toán, giám định xây dựng. Trong mỗi lĩnh vực giám định lại được chia ra thành nhiều các chuyên ngành giám định cụ thể. Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giám định” là “việc xem xét và kết luận về một sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [34, tr.
Từ điển Bách Khoa Việt Nam cũng có cách định nghĩa tương tự về nghĩa của từ giám định trong ngành luật là “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [36, tr. Theo quy định của pháp luật, GĐTP là hoạt động bổ trợ tư pháp phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Trong lĩnh vực tư pháp, khái niệm giám định tư pháp lần đầu tiên được đề cập trong Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), theo đó nêu: Giám định tư pháp là sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 tiếp tục xác định và làm rõ hơn về khái niệm này.
Tại Điều 1 quy định: Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án [32, Điều 1]. Để cụ thể hóa một trong các vấn đề của quá trình cải cách tư pháp ở nước ta, Luật giám định tư pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2013 tiếp tục quy định hoàn chỉnh hơn về giám định tư pháp. Luật Giám định tư pháp quy định: Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này [21, Điều 2]. Như vậy, cho đến nay mới chỉ có khái niệm về GĐ chứ chưa có khái niệm về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự trong luật thực định.
Tuy nhiên, khoa học pháp lý đã có một số quan điểm về GĐTP trong tố tụng hình sự được phát biểu thành các định nghĩa khoa học có thể kể đến như: Quan điểm thứ nhất: giám định tư pháp trong tố tụng hình sự là việc nghiên cứu các vật chứng, chứng từ, tử thi, tình trạng sức khỏe và đặc điểm thể chất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người sống có ý nghĩa đối với vụ án, do người có hiểu biết chuyên môn tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra bằng quyết định trưng cầu giám định. Khái niệm này đã cụ thể hóa các hoạt động giám định trong tố tụng hình sự nhưng phạm vi chủ thể của khái niệm này quá hẹp vì giám định tư pháp trong tố tụng hình sự không chỉ được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra mà còn theo yêu cầu của những Cơ quan tiến hành tố tụng khác (Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển…) Quan điểm thứ hai cho rằng: trong tố tụng hình sự giám định là việc nghiên cứu, phân tích, xét nghiệm do các nhà khoa học, kĩ thuật và chuyên môn khác tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án về những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự (Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý 2011). So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này phù hợp hơn với các quy định của BLTTHS năm 2003 xét về mặt chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định. Tuy nhiên khái niệm này cũng chưa bao quát hết nội hàm các quy định của pháp luật tố tụng về chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định cũng như những nội dung khác liên quan đến Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự.
Có thể nhận thấy, GĐTP trong tố tụng hình sự là hoạt động xuất hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. GĐTP chỉ được tiến hành trong những trường hợp và theo trình tự do BLTTHS quy định. Nói cách khác, hoạt động giám định tư pháp nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự theo trình tự do BLTTHS quy định thì mới là GĐTP trong tố tụng hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự quy định GĐTP là một biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ với những quy định rất rõ ràng, chi tiết; đồng thời cũng xác định rõ ý nghĩa của kết luận giám định đối với việc chứng minh tội phạm và người phạm tội; cụ thể như sau: - Điều 60 quy định về người giám định, trong đó xác định rõ người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật; đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình tố tụng hình sự.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật giám định tư pháp quy định chủ thể tiến hành GĐTP bao gồm giám định viên tư pháp và người GĐTP theo vụ việc. Trong đó, giám định viên tư pháp là người đủ tiêu chuẩn về quốc tịch, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và thực tế công tác, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện giám định tư pháp. Người giám định tư pháp theo vụ việc là người chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm là giám định viên tư pháp nhưng là người đủ tiêu chuẩn về quốc tịch, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và thực tế hoạt động chuyên môn, kinh nghiệm, được lựa chọn làm người giám định tư pháp theo vụ việc. - Điều 64 quy định về Chứng cứ, tại khoản 2 xác định Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ pháp lý phục vụ điều tra, truy tố, xét xử.
- Điều 65 quy định về thu thập chứng cứ trong đó xác định rõ để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền tiến hành một trong các biện pháp là Trưng cầu Giám định. - Điều 73 quy định về Kết luận giám định, trong đó xác định rõ quyền của người giám định được đưa ra kết luận về vấn đề được giám định, trách nhiệm, thủ tục khi đưa ra kết luận về vấn đề được giám định; trách nhiệm, thủ tục đối với Cơ quan tiến hành tố tụng trong trương hợp không đồng ý với kết luận giám định. - Tại Điều 155 quy định về Trưng cầu giám định trong đó xác định rõ chủ thể có quyền ra quyết định trưng cầu giám định là Cơ quan tiến hành tố tụng, quy định về các nội dung trong Quyết định trưng cầu giám định và các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. - Điều 156 quy định về việc tiến hành giám định, trong đó có các quy định về địa điểm tiến hành giám định, các chủ thể khác có thể tham dự việc giám định bên cạnh giám định viên và thu tục trong trường hợp giám định không thể tiến hành đúng thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu.
- Điều 157 quy định về các vấn đề có liên quan đến nội dung kết luận giám định. Từ những phân tích trên, có thể khái quát “Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự là việc người có kiến thức chuyên môn trong những lĩnh vực khác nhau, sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm sáng tỏ những vấn đề theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự 1. Căn cứ vào quy định của pháp luật về sự cần thiết phải xác định các sự kiện trong vụ án: Giám định bắt buộc và giám định khi xét thấy cần thiết Giám định bắt buộc: được quy định tại khoản 3 điều 155 BLTTHS 2003, là trường hợp khi xuất hiện một hoặc một số tình tiết liên quan đến vụ án mà luật TTHS đã quy định thì CQTHTT bắt buộc phải TCGĐ, nếu không trưng cầu là vi phạm thủ tục tố tụng hình sự.
Giám định khi xét thấy cần thiết: là trường hợp khi xuất hiện những tính tiết nhất định trong vụ án, tuy luật không quy định bắt buộc phải giám định nhưng CQTHTT nhận thấy việc giám định là rất cần thiết để giải quyết vụ án một cách chính xác và TCGĐ thì giám định viên sẽ tiến hành việc giám định.