Chương 1: Lý luận chung về xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng Chương 2: Giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng theo pháp luật Liên minh châu Âu Chương 3: Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và định hướng hoàn thiện 10 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HỢP ĐỒNG. Hợp đồng dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.1 Khi có yếu tố nước ngoài, hợp đồng trở thành đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với những đặc thù riêng của nó. Tuy nhiên hiện nay chưa có quy định nào thể hiện khái niệm hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài một cách trực tiếp cũng như vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm này2.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng là một quan hệ dân sự, vì vậy có thể định nghĩa hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài thông qua định nghĩa quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Điều 758 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội ngày 14 tháng 6 năm 2005 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. So với Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội ngày 14 tháng 6 năm 2005 (BLDS 2005), Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 24/11/2015 (BLDS 2015) có nhiều thay đổi về cách thức quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Cụ thể như sau: Thứ nhất, về chủ thể, ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Một điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 là việc BLDS 2015 đã lược bỏ chủ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không xem đây là một chủ thể để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự. Sự lược bỏ này có thể xem là hợp lý, nó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định tư cách tố tụng của loại chủ thể này đồng 1 Điều 388 BLDS 2005. 2 Trường ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế (Phần riêng), NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 11 thời khắc phục những bất cập trong quá trình áp dụng quy định này trên thực tế khi mà khái niệm “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” chưa được định nghĩa một cách cụ thể và đơn nghĩa ở bất kì văn bản quy phạm pháp luật nào, thậm chí về mặt nội hàm của thuật ngữ này cũng không hoàn toàn giống nhau trong cách thức quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 13/11/20083 và Nghị định số 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2006 Quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài 4 dẫn đến tư cách pháp lý của chủ thể này chưa được xác định rõ ràng trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài5.
Bên cạnh đó, sự thay đổi này là phù hợp với chính sách của Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới, cụ thể chính sách này khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, Nhà nước sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để chủ thể này tham gia các quan hệ pháp luật trong nước, đồng thời tôn trọng pháp luật của quốc gia nước sở tại, dành cho chủ thể này những quyền lợi như một công dân trong nước6. Do đó, nếu họ tham gia quan hệ hợp đồng với tư cách là công dân Việt Nam thì hợp đồng này không được xem là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nhưng nếu họ tham gia với tư cách là công dân của quốc gia mà họ định cư thì hợp đồng này được xem là hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo trường hợp có một bên chủ thể là cá nhân nước ngoài. Ngoài ra, một điểm mới khác về yếu tố chủ thể của BLDS 2015 so với BLDS 2005 là BLDS 2015 đã thay thế chủ thể cơ quan, tổ chức nước ngoài bằng pháp nhân nước ngoài. Sự thay đổi này đã tạo ra được tính nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ cho toàn BLDS 2015.
Không những thế nó còn thống nhất với quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Đồng thời, sự thay đổi này giúp cho việc xác định luật áp dụng 3 Xem khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008. 4 Xem khoản 3 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP. 5 Vũ Thị Phương Lan (2014), “Phương hướng hoàn thiện quy định về phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005”, Tạp chí Luật học, (4), tr.39 6 Xem Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày 26/3/2004.
12 cho các hợp đồng có yếu tố nước ngoài trở nên dễ dàng và chính xác hơn so với khái niệm cơ quan, tổ chức khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của pháp nhân. Thứ hai, tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Có thể nhận thấy đây là một hạn chế của BLDS 2005, khi mà trên thực tế đối tượng của hợp đồng có thể là tài sản, công việc trong hợp đồng dịch vụ, con người trong hợp đồng bảo hiểm…Trong khi đó, BLDS 2005 đã giới hạn đối tượng của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài chỉ là tài sản liên quan đến quan hệ nằm ở nước ngoài. Việc giới hạn này đã gián tiếp loại bỏ những quan hệ dân sự mà đối tượng của nó không phải là tài sản.
Khắc phục hạn chế này, BLDS 2015 đã sử dụng cụm từ “đối tượng của quan hệ” thay cho cụm từ “tài sản liên quan đến quan hệ” trong BLDS 2005. Đối tượng của quan hệ dân sự sẽ có nghĩa rộng hơn rất nhiều so với tài sản liên quan đến quan hệ. Sự điều chỉnh này được xem là hợp lý trong bối cảnh ở nước ta ngày càng có nhiều hơn những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà đối tượng của nó không đơn thuần chỉ là tài sản mà có thể là công việc, con người hay thậm chí là trách nhiệm dân sự. Thứ ba, căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài.
Yếu tố này có thể hiểu chỉ cần một trong các sự kiện pháp lý liên quan đến quan hệ dân sự được điều chỉnh bởi luật nước ngoài hoặc phát sinh ở nước ngoài thì quan hệ dân sự đó được xác định là có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, quy định này lại có một hạn chế là nó mang tính trùng lặp, thiếu logic. Bởi lẽ, việc các bên tham gia quan hệ dân sự đều là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ này theo pháp luật nước ngoài như vậy đồng nghĩa với việc các căn cứ này xảy ra ở nước ngoài hay phát sinh ở nước ngoài thì pháp luật nước ngoài mới có thể được áp dụng để điều chỉnh. Khắc phục hạn chế này, BLDS 2015 quy định căn cứ xác lập, thay đổi, thực hiện và chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài.
Như vậy, bên cạnh căn cứ xác lập, thay đổi và chấm dứt quan hệ, BLDS 2015 đã bổ sung thêm yếu tố thực hiện quan hệ đồng thời thay cụm từ “theo pháp luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài” bằng cụm từ “xảy ra ở nước ngoài”. Cụm từ này mang tính bao hàm cả hai vấn đề 13 được quy định trong BLDS 2005. Do đó, theo quan điểm tác giả đây là một sự thay đổi hợp lý và rất hay của BLDS 2015. Trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành của nước ta cũng có những khái niệm tương tự về hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
Chẳng hạn, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ Luật Hàng hải số 95/2015/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 25/11/2015 thì một hợp đồng được xác định là có yếu tố nước ngoài khi có ít nhất một bên chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài. Tại khoản 4 Điều 4 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 26/11/2014 cũng có cách xác định tương tự. Như vậy, điểm chung của hai văn bản này là đều dựa vào đặc điểm chủ thể để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng. Trong khi đó, theo quy định của Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 14/6/2005, hoạt động mua bán hàng hoá được coi là mua bán hàng hoá quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam hay nước ngoài.
Luật Thương mại 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hoá qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hoá là mua bán hàng hoá quốc tế7. Như vậy, phạm vi xác định yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật thương mại 2005 là hẹp hơn rất nhiều so với BLDS 2005. Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (CISG). Theo đó, Công ước này cũng có một quy định gián tiếp về khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài, cụ thể Điều 1 Công ước quy định: “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”.