phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢ̣C TIỄN VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Chƣơng 4.
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓAGẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 9 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨULIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Thất nghiệp và việc làm là chủ đề đƣợc bàn luận từ lâu trong khoa học kinh tế, đƣợc nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm. Nó trƣớc tiên đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh phát triển của một nền kinh tế thị trƣờng, khởi phát từ các nƣớc hiện thuộc nhóm phát triển. Các kết quả này sau đó đƣợc áp dụng cho trƣờng hợp các nƣớc đang phát triển, đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH. Gần đây, khi thế giới bƣớc vào kỷ nguyên KTTT, vấn đề việc làm và GQVL lại nổi lên khi chúng cần đƣợc xem xét, cắt nghĩa phù hợp với bối cảnh mới, khác nhiều so với các thời kỳ trƣớc đây.Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới 1.Về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trƣờng nói chung Trải qua các giai đoạn của lịch sử xã hội đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau về thất nghiệp – việc làm.
Các nhà kinh tế cổ điển thời kỳ đầu, sống trong thời kỳ khoa học – công nghệ chƣa phát triển, lao động thủ công là chính, mức cầu về lao động rất lớn, nên họ cho rằng thất nghiệp chỉ là hiện tƣợng tạm thời, Theo họ, sở dĩ có thất nghiệp là do ngƣời lao động lƣời biếng, không chăm chỉ.Các nhà kinh tế thời kỳ này cho rằng thất nghiệp (tức sự lƣời biếng) tỷ lệ thuận với mức tiền công. Nếu tiền lƣơng cao sẽ khiến công nhân thích ăn chơi, nhậu nhẹt, không muốn lao động. Khi khoa học – kỹ thuật phát triển, sự ra đời của máy móc đã dẫn tới nạn “nhân khẩu thừa” thì lý thuyết của Thomas Robert Malthus cho rằng thất nghiệp trong xã hội chỉ do con ngƣời sinh đẻ quá nhiều. Mác (1818-1883) đã gắn vấn đề thất nghiệp với quy luật nhân khẩu thừa tƣơng đối trong CNTB.Mác cho rằng cầu về lao động xã hội không quan hệ trực tiếp với tổng số tƣ bản mà nó chỉ liên quan trực tiếp đến bộ phận tƣ bản khả biến.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ và do quy luật tích lũy TBCN, đã làm cho cấu tạo hữu cơ tƣ bản ngày càng tăng, bộ phận tƣ bản khả biến có xu hƣớng giảm tƣơng đối trong tổng số tƣ bản và đó là nguyên nhân gây ra hiện tƣợng thất nghiệp [38, tr877]. Mác thì việc ứng dụng các thành tựu KH - CN hiện đại thƣờng dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tƣ bản và tăng năng suất lao động. Sự tăng năng suất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lƣợng lao động sống so với khối 10 lƣợng tƣ liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lƣợng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó [43, tr123]. Khi trình bày quy luật nhân khẩu thừa tƣơng đối, có lẽ C.Mác không hình dung đƣợc tiến trình “động” của việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ.
Thực tế, việc áp dụng máy móc và các kỹ thuật sản xuất mới, một mặt làm cắt giảm nhu cầu về lao động do máy móc thay thế con ngƣời, song mặt khác, nó lại làm xuất hiện những ngành nghề sản xuất và dịch vụ mới, do đó lại tạo ra những nhu cầu mới về lao động. Điều này khiến cho những dự báo rút ra từ “quy luật nhân khẩu thừa” không hẳn là phù hợp với thực tiễn của các nền kinh tế thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa. Các nhàkinh tế thuộc trƣờng phái tân cổ điển vẫn tiếp tục duy trì niềm tin cổ điển về sức mạnh tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trƣờng nói chung và thị trƣờng lao động nói riêng với phƣơng pháp phân tích khác về cung – cầu thị trƣờng dựa trên lý thuyết cận biên thay cho lý thuyết giá trị - lao động trƣớc đây. Với giả định về tính linh hoạt của giá cả và tiền lƣơng (đây là giả định chung của các nhà kinh tế học cổ điển mọi thời kỳ), họ cho rằng các thị trƣờng sẽ nhanh chóng xác lập sự cân bằng.
Trong điều kiện đó, những ngƣời lao động muốn tìm việc và sẵn lòng chấp nhận mức lƣơng hiện hành trên thị trƣờng sẽ nhanh chóng tìm đƣợc việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp cao chỉ tồn tại nhƣ một hiện tƣợng tạm thời, và thất nghiệp không đƣợc xem là một vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế. Thực tế của cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao ở hầu hết các nƣớc trong thế giới tƣ bản đã giáng một đòn mạnh vào quan điểm cổ điển về hoạt động của nền kinh tế vĩ mô, trong đó có vấn đề việc làm và thất nghiệp. Keynes, trong tác phẩm nổi tiếng của mình“Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936) đã đƣa ra cách nhìn hoàn toàn mới có thể cắt nghĩa vấn đề thất nghiệp nhƣ nó bộc lộ trong thời kỳ Đại suy thoái.
Khác với giả định của trƣờng phái cổ điển, Keynes cho rằng giá cả và đặc biệt là tiền lƣơng có tính cứng nhắc, do đó sản lƣợng của nền kinh tế sẽ thấp, nếu tổng cầu bị suy yếu và duy trì ở mức thấp. Chẳng hạn, điều này sẽ xảy ra, khi vì một lý do nào đó mà các gia đình cắt giảm chi tiêu tiêu dùng quá nhiều và tiết kiệm quá mức, khiến cho tổng cầu bị sụt giảm. Khi tổng cầu suy giảm, do gặp khó khăn trong việc bán hàng, các doanh nghiệp sẽ thu 11 hẹp quy mô sản xuất cũng nhƣ cắt giảm nhu cầu thuê mƣớn lao động. Kết quả là nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy thoái và thất nghiệp sẽ gia tăng.
Từ đó ông rút ra kết luận: để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế và trong trƣờng hợp này, chính sách của nhà nƣớc có vai trò quan trọng. Khi nền kinh tế suy thoái, cầu tiêu dùng và đầu tƣ ở khu vực tƣ nhân thấp, Keynes đề xuất rằng chính phủ cầnthực hiện chính sách kích cầu bằng cách tăng các khoản chi tiêu chính phủ hoặc các biện pháp nhƣ: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tƣ, in thêm tiền để cấp phát cho ngân sách nhà nƣớc. Quan điểm cổ điển và quan điển Keynes là hai cách tiếp cận trái ngƣợc nhau về vận hành của nền kinh tế vĩ mô và thị trƣờng lao động. Sau này, ngƣời ta cho rằng cách tiếp cận cổ điển phù hợp khi phân tích nền kinh tế trong dài hạn, còn quan điểm của Keynes lại tỏ ra thích hợp hơn khi xem xét nền kinh tế trong ngắn hạn.
Sự tổng hợp hai cách nhìn này tạo ra dòng kinh tế học chính thống ở các nƣớc Phƣơng Tây.Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở các nƣớc đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa Nổi bật trong các nghiên cứu có tính chất nền tảng có liên quan đến vấn đề việc làm và GQVL ở các nƣớc đang phát triển là các công trình sau: -Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế của Anthur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica đƣợc giải thƣởng Nobel 1979. Tƣ tƣởng cơ bản của lý thuyết này là quá trình GQVL ở các nƣớc đang phát triển thực chất là quá trình chuyển số lao động dƣ thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại thông qua việc đầu tƣ phát triển công nghiệp (CNH). Do trong khu vực nông nghiệp đất đai chật hẹp, lao động lại quá dƣ thừa nên việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng. Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp mà không làm giảm sản lƣợng lƣơng thực cần cho cả nền kinh tế.
Từ đó nâng cao sản lƣợng theo đầu ngƣời đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dƣ trong nông nghiệp. Mặt khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trƣởng và phát triển kinh tế nói chung. 12 Sau đó Jonh Fei và Gustav Ranis đã chỉnh lý lại mô hình của Anthur Lewis, biến nó thành mô hình Lewis - Ranis – Fei (LRF). Mô hình LRF giải thích hiện tƣợng di chuyển lao động ở điều kiện bắt đầu công nghiệp hóa diễn ra ở lớp lao động phổ thông nhằm GQVL cho lao động dôi dƣ trong nông nghiệp và tạo ra mức thu nhập ngày càng cao cho ngƣời lao động.
- Lý thuyết của Harry Toshima: Theo Harry Toshima, lý thuyết của Anthur Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dƣ thừa lao động trong nông nghiệp ở các nƣớc châu Á gió mùa. Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nƣớc vẫn thiếu lao động lúc đỉnh cao của thời vụ và chỉ dƣ thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, ông cho rằng cần giữ lại lao động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những tháng nhàn rỗi bằng cách tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi. Đồng thời, sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các ngành sản xuất công nghiệp cần nhiều lao động.
Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có việc làm đầy đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những tháng nhàn rỗi sẽ nâng cao mức thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng đƣợc thị trƣờng trong nƣớc cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động sẽ đƣợc sử dụng hết. - Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cƣ nông thôn - thành thị (Harris - Todaro) Do quá trình đô thị hóa diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên việc dân cƣ ở khu vực nông thôn, ngoại thành di chuyển vào thành thị là một xu hƣớng có tính quy luật trong quá trình phát triển của tất cả các nƣớc, đặc biệt là đối với các nƣớc phát triển.