Giải Quyết Việc Làm Trong Bối Cảnh Công Nghiệp Hóa và Phát Triển Kinh Tế Tri Thức

Chuyên khảo kinh tế phân tích Giải quyết việc làm ở việt nam trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2015

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới

1.2. Về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường nói chung

1.3. Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở các nước đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa

1.4. Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức

1.5. Khái quát tình hình nghiên cứu trong nước

1.6. Về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung ở Việt Nam

1.7. Về vấn đề việc làm, giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

1.8. Nhận xét rút ra từ tổng quan tình hình nghiên cứu

1.9. Những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã công bố

1.10. Những "khoảng trống" và một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.11. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

2.1. Việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường

2.2. Một số khái niệm cơ bản

2.3. Nguyên nhân của thất nghiệp. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm và giải quyết việc làm

2.4. Giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

2.5. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề giải quyết việc làm ở các nước đang phát triển

2.6. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và ảnh hưởng của nó đến xu thế việc làm

2.7. Nội dung của giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

2.8. Các tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

2.9. Kinh nghiệm của các nước về giải quyết việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

2.10. Kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số quốc gia

2.11. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2.12. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

3.1. Chủ trương và chính sách giải quyết việc làm của Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

3.2. Các chủ trương và định hướng cơ bản

3.3. Hệ thống chính sách

3.4. Thực trạng giải quyết việc làm ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

3.5. Quy mô và chất lượng nguồn nhân lực

3.6. Tình hình giải quyết việc làm ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

3.7. Thu nhập của người lao động

3.8. Mức tăng thu nhập chung của người lao động

3.9. Thu nhập theo ngành nghề

3.10. Thu nhập giữa các vùng kinh tế

3.11. Đánh giá về kết quả giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

3.12. Những thành tựu đạt được

3.13. Những hạn chế, yếu kém

3.14. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

3.15. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

4.1. Quan điểm và định hướng giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KTTT

4.2. Quan điểm về giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

4.3. Định hướng, mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

4.4. Các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

4.5. Hoàn thiện các thể chế thị trường nói chung, thể chế liên quan đến thị trường lao động nói riêng

4.6. Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường lao động

4.7. Tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển và nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

4.8. Đẩy nhanh nhịp độ và nâng cao hiệu quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập các điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng nhanh, bền vững, phù hợp với điều kiện của kinh tế tri thức

4.9. Mở mang ngành nghề mới và những ngành sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm tại chỗ

4.10. Một số giải pháp khác

4.11. Kết luận chương 4

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Quyết Việc Làm Trong Bối Cảnh Mới

Giải quyết việc làm (GQVL) là mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng của mọi quốc gia. Đặc biệt, với các nước đang phát triển, GQVL là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình công nghiệp hóa (CNH) mở ra các ngành công nghiệp và dịch vụ mới, thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp. Tuy nhiên, khi CNH chưa hoàn thành, tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề nan giải. Sự xuất hiện của kinh tế tri thức (KTTT) tạo ra biến đổi sâu sắc, ảnh hưởng đến CNH và GQVL. KTTT kết nối các nền kinh tế quốc gia thành một nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi lao động có trình độ và kỹ năng cao hơn. Điều này tạo ra thách thức mới đối với bài toán GQVL ở các nước đang phát triển. Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển, đang thực hiện CNH, hiện đại hóa (HĐH). Quá trình này chịu tác động của xu hướng phát triển KTTT, đòi hỏi chiến lược chủ động hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT làm biến đổi cấu trúc kinh tế và cơ cấu lao động, tác động đến giáo dục đào tạo và khả năng cung ứng nguồn nhân lực, ảnh hưởng không nhỏ đến phương thức giải quyết vấn đề việc làm ở Việt Nam.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Giải Quyết Việc Làm Hiện Nay

Giải quyết việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội, ảnh hưởng đến an ninh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT, vấn đề GQVL ở Việt Nam mang những nội dung và khía cạnh mới, cần được nghiên cứu để tìm ra các phương hướng và giải pháp đúng đắn, phù hợp. Theo tài liệu gốc, hạn chế và cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra và duy trì mức công ăn, việc làm cao luôn là một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia.

1.2. Ảnh Hưởng Của Kinh Tế Tri Thức Đến Thị Trường Lao Động

Kinh tế tri thức tạo ra sự biến đổi sâu sắc trong nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng không nhỏ đến các tiến trình kinh tế ở hầu hết mọi quốc gia, trong đó có quá trình CNH và giải quyết việc làm ở các nước đang phát triển. Nền kinh tế tri thức chẳng những vận hành trên cơ sở một nguyên lý sáng tạo của cải mới mà còn là nền kinh tế thực sự mang tính chất toàn cầu hóa. Nó dần dần kết nối các nền kinh tế quốc gia thành một nền kinh tế toàn cầu chung, bất chấp sự khác biệt về trình độ phát triển giữa chúng.

II. Thách Thức Giải Quyết Việc Làm Trong Công Nghiệp Hóa

Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam vẫn chưa hoàn thành, nhưng Việt Nam không tránh khỏi sự tác động của xu hướng phát triển KTTT. Điều này tạo ra những thách thức đối với bài toán GQVL. Yêu cầu về lao động có trình độ cao, kỹ năng cao ngày càng trở nên bức thiết hơn, tạo ra áp lực lớn đối với năng lực cung ứng lao động của nền kinh tế. Cơ cấu việc làm, ngành nghề biến đổi nhanh hơn, với sự triệt tiêu của nhiều ngành nghề truyền thống và sự xuất hiện của các ngành nghề mới, phù hợp với yêu cầu của KTTT. Theo nghiên cứu, Việt Nam lựa chọn chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế như một chiến lược phát triển. Chấp nhận hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu được xem là cách thức để Việt Nam tận dụng cơ hội phát triển to lớn và mới mẻ do thời đại kinh tế tri thức mang lại.

2.1. Áp Lực Về Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Việt Nam đang trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của thời kỳ CNH, HĐH. Xét về tổng thể, nền kinh tế đất nước vẫn chưa thoát khỏi tính chất của một nền kinh tế nông nghiệp – nông dân, với trình độ dân trí chung còn chưa cao, quy mô dân số vẫn tăng nhanh, nguồn cung lao động vẫn dồi dào trong khi các nguồn lực kinh tế khác còn nhiều hạn chế.

2.2. Biến Động Cơ Cấu Việc Làm Và Ngành Nghề

Quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT không khỏi làm biến đổi cấu trúc kinh tế và cơ cấu lao động, tác động đến giáo dục đào tạo và khả năng cung ứng nguồn nhân lực, ảnh hưởng không nhỏ đến phương thức giải quyết vấn đề việc làm ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, vấn đề GQVL ở Việt Nam chẳng những là một vấn đề thời sự gay gắt, ảnh hưởng đến an ninh xã hội và phát triển bền vững, mà còn là một vấn đề hàm chứa những nội dung và khía cạnh mới, cần được nghiên cứu để tìm ra các phương hướng và giải pháp đúng đắn, phù hợp.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Thể Chế Thị Trường Lao Động Việt Nam

Để giải quyết vấn đề việc làm hiệu quả, cần hoàn thiện các thể chế thị trường nói chung và thể chế liên quan đến thị trường lao động nói riêng. Điều này bao gồm việc tạo ra môi trường pháp lý minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền lợi của người lao động và doanh nghiệp. Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) phát triển, tạo thêm nhiều việc làm mới. Đồng thời, cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Theo tài liệu, cần tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển và nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.

3.1. Xây Dựng Môi Trường Pháp Lý Minh Bạch Công Bằng

Môi trường pháp lý minh bạch và công bằng là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và tạo ra nhiều việc làm mới. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, đảm bảo phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.

3.2. Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ

DNNVV đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Cần có chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn, công nghệ, thông tin thị trường, đào tạo nguồn nhân lực, giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

3.3. Nâng Cao Trình Độ Tay Nghề Người Lao Động

Thị trường lao động ngày càng đòi hỏi người lao động có trình độ tay nghề cao, kỹ năng mềm tốt. Cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề, tạo điều kiện cho người lao động học tập và nâng cao trình độ.

IV. Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Thị Trường Lao Động

Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường lao động là yếu tố then chốt để giải quyết vấn đề việc làm. Cần tăng cường công tác dự báo nhu cầu thị trường lao động, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động hiện đại, kết nối cung - cầu lao động hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Theo tài liệu, cần hoàn thiện các thể chế thị trường nói chung, thể chế liên quan đến thị trường lao động nói riêng.

4.1. Dự Báo Nhu Cầu Thị Trường Lao Động

Dự báo chính xác nhu cầu thị trường lao động là cơ sở để xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp. Cần tăng cường công tác nghiên cứu, khảo sát, thu thập thông tin về thị trường lao động, xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu thị trường lao động hiện đại.

4.2. Xây Dựng Hệ Thống Thông Tin Thị Trường Lao Động

Hệ thống thông tin thị trường lao động hiện đại giúp kết nối cung - cầu lao động hiệu quả, giảm thiểu tình trạng mất cân đối cung - cầu. Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động trực tuyến, cung cấp thông tin về việc làm, đào tạo, chính sách lao động cho người lao động và doanh nghiệp.

4.3. Thanh Tra Kiểm Tra Việc Thực Hiện Pháp Luật Lao Động

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật lao động, đảm bảo môi trường làm việc an toàn, công bằng cho người lao động.

V. Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Nền Kinh Tế

Đẩy nhanh nhịp độ và nâng cao hiệu quả của quá trình CNH, HĐH thông qua đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập các điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng nhanh, bền vững, phù hợp với điều kiện của kinh tế tri thức. Mở mang ngành nghề mới và những ngành sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm tại chỗ. Theo tài liệu, cần đẩy nhanh nhịp độ và nâng cao hiệu quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập các điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng nhanh, bền vững, phù hợp với điều kiện của kinh tế tri thức.

5.1. Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Kinh Tế

Chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

5.2. Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế

Cơ cấu lại các ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp và công nghiệp khai thác tài nguyên. Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính, ngân hàng.

5.3. Phát Triển Ngành Nghề Mới Tạo Việc Làm Tại Chỗ

Khuyến khích phát triển các ngành nghề mới, sử dụng nhiều lao động, tạo việc làm tại chỗ, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp xã hội, tạo điều kiện cho người lao động tự tạo việc làm.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Giải Quyết Việc Làm Tại Việt Nam

Giải quyết việc làm ở Việt Nam trong bối cảnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động để tạo ra một thị trường lao động năng động, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Với những giải pháp đồng bộ và hiệu quả, Việt Nam có thể vượt qua những thách thức và đạt được mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

6.1. Tổng Kết Các Giải Pháp Đề Xuất

Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện thể chế thị trường lao động, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra một thị trường lao động năng động, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội.

6.2. Triển Vọng Thị Trường Lao Động Việt Nam

Thị trường lao động Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Với lợi thế về dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất và dịch vụ quan trọng của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.

06/06/2025
Giải quyết việc làm ở việt nam trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thứ

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢ̣C TIỄN VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Chƣơng 4.

QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓAGẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 9 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨULIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Thất nghiệp và việc làm là chủ đề đƣợc bàn luận từ lâu trong khoa học kinh tế, đƣợc nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm. Nó trƣớc tiên đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh phát triển của một nền kinh tế thị trƣờng, khởi phát từ các nƣớc hiện thuộc nhóm phát triển. Các kết quả này sau đó đƣợc áp dụng cho trƣờng hợp các nƣớc đang phát triển, đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH. Gần đây, khi thế giới bƣớc vào kỷ nguyên KTTT, vấn đề việc làm và GQVL lại nổi lên khi chúng cần đƣợc xem xét, cắt nghĩa phù hợp với bối cảnh mới, khác nhiều so với các thời kỳ trƣớc đây.Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới 1.Về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trƣờng nói chung Trải qua các giai đoạn của lịch sử xã hội đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau về thất nghiệp – việc làm.

Các nhà kinh tế cổ điển thời kỳ đầu, sống trong thời kỳ khoa học – công nghệ chƣa phát triển, lao động thủ công là chính, mức cầu về lao động rất lớn, nên họ cho rằng thất nghiệp chỉ là hiện tƣợng tạm thời, Theo họ, sở dĩ có thất nghiệp là do ngƣời lao động lƣời biếng, không chăm chỉ.Các nhà kinh tế thời kỳ này cho rằng thất nghiệp (tức sự lƣời biếng) tỷ lệ thuận với mức tiền công. Nếu tiền lƣơng cao sẽ khiến công nhân thích ăn chơi, nhậu nhẹt, không muốn lao động. Khi khoa học – kỹ thuật phát triển, sự ra đời của máy móc đã dẫn tới nạn “nhân khẩu thừa” thì lý thuyết của Thomas Robert Malthus cho rằng thất nghiệp trong xã hội chỉ do con ngƣời sinh đẻ quá nhiều. Mác (1818-1883) đã gắn vấn đề thất nghiệp với quy luật nhân khẩu thừa tƣơng đối trong CNTB.Mác cho rằng cầu về lao động xã hội không quan hệ trực tiếp với tổng số tƣ bản mà nó chỉ liên quan trực tiếp đến bộ phận tƣ bản khả biến.

Do sự phát triển của khoa học công nghệ và do quy luật tích lũy TBCN, đã làm cho cấu tạo hữu cơ tƣ bản ngày càng tăng, bộ phận tƣ bản khả biến có xu hƣớng giảm tƣơng đối trong tổng số tƣ bản và đó là nguyên nhân gây ra hiện tƣợng thất nghiệp [38, tr877]. Mác thì việc ứng dụng các thành tựu KH - CN hiện đại thƣờng dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tƣ bản và tăng năng suất lao động. Sự tăng năng suất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lƣợng lao động sống so với khối 10 lƣợng tƣ liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lƣợng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó [43, tr123]. Khi trình bày quy luật nhân khẩu thừa tƣơng đối, có lẽ C.Mác không hình dung đƣợc tiến trình “động” của việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ.

Thực tế, việc áp dụng máy móc và các kỹ thuật sản xuất mới, một mặt làm cắt giảm nhu cầu về lao động do máy móc thay thế con ngƣời, song mặt khác, nó lại làm xuất hiện những ngành nghề sản xuất và dịch vụ mới, do đó lại tạo ra những nhu cầu mới về lao động. Điều này khiến cho những dự báo rút ra từ “quy luật nhân khẩu thừa” không hẳn là phù hợp với thực tiễn của các nền kinh tế thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa. Các nhàkinh tế thuộc trƣờng phái tân cổ điển vẫn tiếp tục duy trì niềm tin cổ điển về sức mạnh tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trƣờng nói chung và thị trƣờng lao động nói riêng với phƣơng pháp phân tích khác về cung – cầu thị trƣờng dựa trên lý thuyết cận biên thay cho lý thuyết giá trị - lao động trƣớc đây. Với giả định về tính linh hoạt của giá cả và tiền lƣơng (đây là giả định chung của các nhà kinh tế học cổ điển mọi thời kỳ), họ cho rằng các thị trƣờng sẽ nhanh chóng xác lập sự cân bằng.

Trong điều kiện đó, những ngƣời lao động muốn tìm việc và sẵn lòng chấp nhận mức lƣơng hiện hành trên thị trƣờng sẽ nhanh chóng tìm đƣợc việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp cao chỉ tồn tại nhƣ một hiện tƣợng tạm thời, và thất nghiệp không đƣợc xem là một vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế. Thực tế của cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao ở hầu hết các nƣớc trong thế giới tƣ bản đã giáng một đòn mạnh vào quan điểm cổ điển về hoạt động của nền kinh tế vĩ mô, trong đó có vấn đề việc làm và thất nghiệp. Keynes, trong tác phẩm nổi tiếng của mình“Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936) đã đƣa ra cách nhìn hoàn toàn mới có thể cắt nghĩa vấn đề thất nghiệp nhƣ nó bộc lộ trong thời kỳ Đại suy thoái.

Khác với giả định của trƣờng phái cổ điển, Keynes cho rằng giá cả và đặc biệt là tiền lƣơng có tính cứng nhắc, do đó sản lƣợng của nền kinh tế sẽ thấp, nếu tổng cầu bị suy yếu và duy trì ở mức thấp. Chẳng hạn, điều này sẽ xảy ra, khi vì một lý do nào đó mà các gia đình cắt giảm chi tiêu tiêu dùng quá nhiều và tiết kiệm quá mức, khiến cho tổng cầu bị sụt giảm. Khi tổng cầu suy giảm, do gặp khó khăn trong việc bán hàng, các doanh nghiệp sẽ thu 11 hẹp quy mô sản xuất cũng nhƣ cắt giảm nhu cầu thuê mƣớn lao động. Kết quả là nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy thoái và thất nghiệp sẽ gia tăng.

Từ đó ông rút ra kết luận: để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải gia tăng tổng cầu trong nền kinh tế và trong trƣờng hợp này, chính sách của nhà nƣớc có vai trò quan trọng. Khi nền kinh tế suy thoái, cầu tiêu dùng và đầu tƣ ở khu vực tƣ nhân thấp, Keynes đề xuất rằng chính phủ cầnthực hiện chính sách kích cầu bằng cách tăng các khoản chi tiêu chính phủ hoặc các biện pháp nhƣ: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tƣ, in thêm tiền để cấp phát cho ngân sách nhà nƣớc. Quan điểm cổ điển và quan điển Keynes là hai cách tiếp cận trái ngƣợc nhau về vận hành của nền kinh tế vĩ mô và thị trƣờng lao động. Sau này, ngƣời ta cho rằng cách tiếp cận cổ điển phù hợp khi phân tích nền kinh tế trong dài hạn, còn quan điểm của Keynes lại tỏ ra thích hợp hơn khi xem xét nền kinh tế trong ngắn hạn.

Sự tổng hợp hai cách nhìn này tạo ra dòng kinh tế học chính thống ở các nƣớc Phƣơng Tây.Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở các nƣớc đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa Nổi bật trong các nghiên cứu có tính chất nền tảng có liên quan đến vấn đề việc làm và GQVL ở các nƣớc đang phát triển là các công trình sau: -Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế của Anthur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica đƣợc giải thƣởng Nobel 1979. Tƣ tƣởng cơ bản của lý thuyết này là quá trình GQVL ở các nƣớc đang phát triển thực chất là quá trình chuyển số lao động dƣ thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại thông qua việc đầu tƣ phát triển công nghiệp (CNH). Do trong khu vực nông nghiệp đất đai chật hẹp, lao động lại quá dƣ thừa nên việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng. Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp mà không làm giảm sản lƣợng lƣơng thực cần cho cả nền kinh tế.

Từ đó nâng cao sản lƣợng theo đầu ngƣời đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dƣ trong nông nghiệp. Mặt khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trƣởng và phát triển kinh tế nói chung. 12 Sau đó Jonh Fei và Gustav Ranis đã chỉnh lý lại mô hình của Anthur Lewis, biến nó thành mô hình Lewis - Ranis – Fei (LRF). Mô hình LRF giải thích hiện tƣợng di chuyển lao động ở điều kiện bắt đầu công nghiệp hóa diễn ra ở lớp lao động phổ thông nhằm GQVL cho lao động dôi dƣ trong nông nghiệp và tạo ra mức thu nhập ngày càng cao cho ngƣời lao động.

- Lý thuyết của Harry Toshima: Theo Harry Toshima, lý thuyết của Anthur Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dƣ thừa lao động trong nông nghiệp ở các nƣớc châu Á gió mùa. Bởi vì, nền nông nghiệp lúa nƣớc vẫn thiếu lao động lúc đỉnh cao của thời vụ và chỉ dƣ thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, ông cho rằng cần giữ lại lao động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những tháng nhàn rỗi bằng cách tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi. Đồng thời, sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp vào các ngành sản xuất công nghiệp cần nhiều lao động.

Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có việc làm đầy đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những tháng nhàn rỗi sẽ nâng cao mức thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng đƣợc thị trƣờng trong nƣớc cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động sẽ đƣợc sử dụng hết. - Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cƣ nông thôn - thành thị (Harris - Todaro) Do quá trình đô thị hóa diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên việc dân cƣ ở khu vực nông thôn, ngoại thành di chuyển vào thành thị là một xu hƣớng có tính quy luật trong quá trình phát triển của tất cả các nƣớc, đặc biệt là đối với các nƣớc phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ