Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết); kết luận; danh mục tài liệu tham khảo. Luan van 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở HUYỆN THƢỜNG TÍN, HÀ NỘI 1. Việc làm, giải quyết việc làm và tác động của công nghiệp hóa - hiện đại hóa đến việc làm cho nông dân 1. Việc làm Trong tác phẩm nổi tiếng Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [30, tr.
Điều đó có nghĩa nhân tố có tính chất quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là việc sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Ở đây, lao động được xem xét ở khía cạnh thứ nhất – lao động để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Việc làm được bắt nguồn từ lao động của con người (tất nhiên là chỉ ở những người có sức lao động) tác động đến tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình, và việc làm luôn gắn với một ngành nghề nhất định.
Điều 13, chương 2, Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [33, tr. Như vậy, việc làm là lao động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích của bản thân và gia đình không bị pháp luật ngăn cấm. Trong thực tế, phần lớn những việc làm phạm pháp (buôn ma túy, buôn người…) đều mang lại những khoản thu nhập rất cao cho chủ thể hoạt động, nhưng đó là những hoạt động phạm pháp, không được pháp luật cho phép nên không được thừa nhận là việc làm. Luan van 11 Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: - Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (làm việc được trả công) - Những công việc tự làm hoặc làm các công việc gia đình, được hiểu là các công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó (việc làm không được trả công).
Trên thực tế, phần thu nhập mà bản thân hay gia đình nhận được, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày chính là tiền công, tiền lương mà bản thân người lao động nhận được, hay nói cách khác, trong trường hợp này bản thân người lao động tự trả công cho người lao động. Khác với việc làm không được trả công khi lao động làm việc cho tư bản, có một giá trị thặng dư là số giá trị do giai cấp lao động làm ra giá trị, sản xuất ra, nhưng lại bị giai cấp độc quyền chiếm đoạt, và lúc đó số giá trị đó chỉ gồm có lao động không được trả công. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, thị trường lao động còn đang trong giai đoạn khởi phát, hình thức tìm việc và làm việc còn rất hạn chế, do đó tỷ trọng lao động tự làm việc và làm việc cho gia đình là lớn so với tổng số người đang làm việc, đặc biệt trong khu vực nông thôn. Trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân thường bỏ công sức để trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi…phục vụ cho nhu cầu của họ.
Những dạng lao động kiểu này thường không được định giá và người lao động không được nhận tiền lương hay thu nhập nhưng những sản phẩm bằng hiện vật mà người lao động thu được cũng là một phần tiền lương thu nhập của họ. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích nhưng đồng thời tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Những hoạt động lao Luan van 12 động có ích khác như sản xuất tự cung tự cấp, nhằm phục vụ tự tiêu dùng, nhưng không trao đổi, không đem lại thu nhập cho người lao động thì không được coi là việc làm. Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm.
Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm. Không được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo,.
Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công. Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm. Ví dụ: Mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Việc làm có những tính chất đa dạng như sau: Một là, tính chất cá nhân hay tập thể của việc làm: điều này cho biết công việc của một người hay của tập thể.
Hai là, tính chất địa lý của việc làm: cho biết việc làm được diễn ra ở đâu, khu vực nông thôn hay thành thị, vùng đồng bằng hay miền núi… Ba là, tính chất kỹ thuật của việc làm: cho biết tính đặc thù về kỹ thuật và công nghệ của việc làm. Đây cũng là cơ sở để chia theo ngành nghề của công việc. Bốn là, tính chất thành thạo của việc làm: cho biết năng lực và phẩm chất của người lao động được thể hiện trong quá trình làm việc. Luan van 13 Năm là, tính chất kinh tế của việc làm: cho thấy hiệu quả kinh tế của việc làm.
Sáu là, tính chất cơ động của việc làm: cho thấy khả năng thay đổi nghề nghiệp và năng lực thích nghi với điều kiện làm việc mới của người lao động. Như vậy, việc làm có nhiều tính chất khác nhau và luôn mang tính chất động. Vì vậy người ta chia việc làm thành những phạm trù xã hội – nghề nghiệp khác nhau, từ đó có sự phân biệt các loại nghề nghiệp của lao động khác nhau. - Việc làm chính thức: được hiểu là công việc chính mang lại thu nhập chính (đối với những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công) - Việc làm không chính thức: được hiểu là những công việc làm thêm ngoài làm chính.
Như vậy, đối với người nông dân, việc làm chính của họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là việc làm thêm trong lúc nông nhàn. - Việc làm bền vững: theo ILO, việc làm bền vững là những việc làm có năng suất và chất lượng cho nam giới và nữ giới, trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng. Việc làm bền vững bao gồm các cơ hội làm việc một cách hiệu quả; có thu nhập công bằng; đảm bảo an toàn tại nơi làm việc và bảo vệ xã hội cho người lao động cũng như gia đình họ; có triển vọng phát triển cá nhân và khuyến khích hòa nhập xã hội; cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; và đảm bảo cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng. Như vậy, xét về mặt kinh tế, việc làm bền vững là việc làm phải có năng suất và có thể cạch tranh.
Tuy nhiên trên thế giới, bảo đảm cho người lao động có việc làm bền vững vẫn còn là vấn đề rất nan giải. Luan van 14 * Thiếu việc làm: Thiếu việc làm là những người không có việc làm thường xuyên, thường có những thời gian không lao động vì hết việc. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc làm [33, tr. Do đối tượng sản xuất của nông nghiệp là giới sinh học (cây trồng, vật nuôi), chúng tuân theo các quy luật sinh học, chính vì vậy hoạt động sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên như thời tiết, thiên tai.
nên nó có tính rủi ro cao và việc làm trong nông nghiệp cũng mang tính thời vụ. Điều đó có nghĩa là việc làm của người nông dân không mang tính thường xuyên, trong năm họ không có những khoảng thời gian nông nhàn (không có việc làm trong sản xuất nông nghiệp). Do vậy, khi nghiên cứu lao động nông nghiệp còn có khái niệm “Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng trong năm” đó chính là số phần trăm của tổng số ngày công làm việc thực tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc (bao gồm số ngày công thực tế đã làm việc và số ngày có nhu cầu làm thêm) trong năm của người làm nông nghiệp. Như vậy, đối với những người nông dân mặc dù được phân đất để làm nông nghiệp nhưng họ hầu như không làm nông nghiệp, hoặc làm rất ít mà đi làm thuê như phụ hồ, xây dựng, làm nghề thủ công.
và sinh sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập trên, nhưng các công việc này lại không ổn định, thì những người lao động này vẫn xếp vào dạng lao động thiếu việc làm.