phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh Thái Nguyên. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 1.
Việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm việc làm Điều 13, Chương 2 (việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 qui định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặt hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Hai là, hoạt động đó phải đúng luật, không bị pháp luật cấm. Hai tiêu chí này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập như vi phạm pháp luật như: trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm… không 8 thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ của phụ nữ cho chính gia đình mình. Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công. Điểm đáng lưu ý là tuỳ theo phong tục, tập quán của mỗi nước và pháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việc làm.
Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm ở Hà Lan vì được pháp luật bảo hộ và quản lý. Những người tham gia trong lĩnh vực này cũng được coi như một bộ phận của lực lượng lao động và cũng có tiếng nói của mình như những thành viên tham gia trong những ngành lao động khác. Tuy nhiên ở Việt Nam, hoạt động đó bị coi là vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Số lượng việc làm và loại hình việc làm phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và phát triển mở rộng của các ngành nghề trong nền kinh tế.
Hơn nữa, sự phát triển của lực lượng sản xuất và ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học - công nghệ là tác nhân quan trọng cho phát triển công ăn, việc làm. Một tác nhân quan trọng vừa dẫn tới khả năng gia tăng việc làm là hội nhập và hợp tác sản xuất - kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc có yêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng. Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới “cầu” lao động và “cơ cấu” lao động.
Nếu người lao động không tự nâng cao tay nghề, nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh, phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo được nhiều việc làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là điều khó tránh khỏi. Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ mùa vụ, khối lượng công việc nhiều, tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không có việc 9 làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng nhanh, đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống vì nhiều lý do: đô thị hoá, đất ở… tăng, mặt khác với khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học công nghệ… làm cho năng suất lao động tăng nhanh, giải phóng một lượng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp.
Nếu không tạo đủ công ăn việc làm cho người nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn với thu nhập được người nông dân chấp nhận, sẽ dẫn đến hiện tượng nông dân di chuyển đến các thành phố và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý lao động, quản lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng. * Khái niệm thất nghiệp: Trong kinh tế học, thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm). Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.
Cũng có quan điểm cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng gồm những người mất thu nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng kí ở cơ quan môi giới về lao động nhưng chưa được giải quyết. Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu phải thuộc lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn sau: + Đang mong muốn và tìm việc làm. + Có khả năng làm việc và nằm trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật.
+ Hiện đang chưa có việc làm. Với cách hiểu như trên, không phải bất kì ai có sức lao động nhưng chưa làm việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó, một tiêu chí quan trọng để xem xét một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song 10 không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ… * Phân loại thất nghiệp - Xét về nguồn gốc: thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng.
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cầu - cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó. Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lượng cầu đối với các đầu vào, trong đó có lao động.
Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang lại kết quả tích cực. - Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con), thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạm thời. Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động. Ngoài thất nghiệp hữu hình (thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện) còn tồn tại thất nghiệp trá hình: Là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc.
Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp. Thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động. - Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của nam hoặc nữ. 11 Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó trong tổng số lực lượng lao động.
Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp xảy ra thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi…) Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành nghề nào đó. Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên, người ta có thể chia thất nghiệp theo dân tộc, chủng tộc, tôn giáo… * Khái niệm thiếu việc làm: Theo ILO, người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định cho người có đủ việc làm và có nhu cầu thêm việc làm. Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng: Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm.