CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Trong đời sống thường nhật, tranh chấp là một hiện tượng thường xuyên xảy ra. Trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp kinh doanh, thương mại (KD, TM) là một hiện tượng phổ biến.
Thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo từ điển tiếng Việt, tranh chấp là sự giành giật, tranh giành hơn thua. Đó chính là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Kinh doanh là tổ chức sản xuất, buôn bán nhằm sinh lợi.
Tức là không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán mà chỉ những hoạt động sinh lợi mới được coi là kinh doanh. Thương mại được hiểu đơn giản là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa. Xét trên góc độ pháp lý, thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, thương nghiệp xuất hiện nhiều hơn, thương nhân và hành vi thương mại từ đó mà hình thành. Có thể thấy rằng khái niệm thương mại được thay đổi theo từng thời kỳ.
Trong nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội, Việt Nam không tồn tại khái niệm thương mại vì nền kinh tế của Mác- Lê Nin đi ngược lại với nền kinh tế thị trường. Ở nước ta trong nền kinh tế tập trung bao cấp, thuật ngữ thương mại rất ít được sử dụng. Chỉ đến khi chuyển sang thời kỳ kinh tế thị trường - nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo quy luật cung cầu, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, thuật ngữ thương mại mới được sử dụng trở lại nhưng chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp. 6 Theo khoản 1, 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997, tồn tại hai khái niệm liên quan đến thương mại.
Đó chính là “hành vi thương mại” và “hoạt động thương mại”. “Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan” (khoản 1 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997). “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội” (khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997). Khái niệm này đã vi phạm logic: tách phạm trù sản xuất ra hoạt động thương mại, chỉ coi đây là hoạt động cung ứng hàng hóa và phạm trù ở đây rất hẹp.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rộng. Pháp luật Việt Nam đã tổ hợp các hành vi thương mại khái quát thành hoạt động thương mại. Về khái niệm kinh doanh, theo khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy để hành vi được coi là hành vi kinh doanh thì hành vi đó phải được thực hiện liên tục, mang tính chất nghề nghiệp. Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Ở định nghĩa này, nhà làm luật đã thay dấu phẩy “,” bằng chữ “từ” làm cho hành văn chuẩn hơn, khiến hành vi mang tính chuyên nghiệp hơn. Khái niệm thương mại được mở rộng có nội hàm đồng nghĩa với khái niệm kinh doanh.
Vậy tranh chấp KD, TM là gì? Khái niệm tranh chấp KD, TM lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 238 Luật Thương mại năm 1997, theo đó “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực 7 hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Theo Điều 30 BLTTDS năm 2015, tranh chấp KD, TM là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KD, TM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Kết hợp giữa các khái niệm với nhau, có thể hiểu rằng: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh doanh, thương mại”(Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập II, 2019). Tranh chấp KD, TM có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tranh chấp KD, TM là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ cụ thể.
Trong quan hệ KD, TM, mâu thuẫn chính là trạng thái xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Để tranh chấp có thể phát sinh, điều kiện cần đó chính là sự bất đồng giữa các chủ thể và điều kiện đủ đó chính là mối quan hệ về KD, TM. Cụ thể như mối quan hệ về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, cho thuê, tư vấn kỹ thuật, vận chuyển hàng hóa, vận chuyển hành khách, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ có mục đích lợi nhuận,… Thứ hai, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phải phát sinh từ hoạt động KD, TM. Khi một trong hai chủ thể có hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm phát luật, sẽ là căn cứ để phát sinh tranh chấp.
Trong một số trường hợp ngoại lệ, có sự vi phạm về lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh 8 tranh chấp. Các hoạt động KD, TM là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Thứ ba, chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân với nhau. Ngoài ra trong một số trường hợp cũng có thể tranh chấp giữa thương nhân và chủ thể không là thương nhân (chủ thể không đăng ký kinh doanh); giữa thương nhân và cá nhân không nhằm mục tiêu sinh lợi.
Theo Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với bên còn lại là thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã lựa chọn áp dụng Luật Thương mại nên quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật KD, TM và tranh chấp phát sinh từ quan hệ này được gọi là tranh chấp trong KD, TM. Thứ tư, tranh chấp KD, TM mang tính chất tài sản và mục đích các bên hướng tới là mục đích lợi nhuận. Các xung đột xảy ra chủ yếu liên quan đến tài sản, lợi ích kinh tế giữa các bên.
Mức độ thường gay gắt và tính chất phức tạp. Vì thế, nếu tranh chấp không được giải quyết nhanh chóng sẽ để lại các hậu quả xấu, ảnh hưởng đến các chủ thể chính và các chủ thể khác có liên quan, nghiêm trọng hơn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nước nhà. Phân loại tranh chấp kinh doanh, thương mại Phân loại tranh chấp KD, TM là cơ sở để phân biệt những nhóm, những đối tượng có đặc điểm tương tự nhau, hỗ trợ hoạt động kinh doanh, tạo môi trường pháp lý rõ ràng để các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế cạnh tranh lành mạnh. Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp sau: - Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: bao gồm tranh chấp KD, TM trong nước và tranh chấp KD, TM quốc tế.
- Căn cứ vào số lượng các bên tranh chấp: bao gồm tranh chấp KD, TM hai bên và tranh chấp KD, TM nhiều bên. 9 - Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp: gồm tranh chấp liên quan đến hợp đồng, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, đầu tư, tài chính. - Căn cứ vào quá trình thực hiện: bao gồm các tranh chấp trong quá trình đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng và tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng. - Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp: bao gồm tranh chấp KD, TM hiện tại và tranh chấp KD, TM trong tương lai.