Chương 1.Những vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp KD, TM theo pháp luật Tố tụng dân sự. Chương 2: Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ; Dự báo những thách thức và các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết các tranh chấp Kinh doanh, thƣơng mại theo pháp luật Tố tụng dân sự 1. Khái niệm việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Tranh chấp KD, TM được hiểu một cách chung nhất là sự xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào quan hệ kinh doanh, thương mại.
Tùy từng chế độ chính trị, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia khác nhau mà khái niệm này được hiểu theo những nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được đề cập trong Luật thương mại 1997 “Là những tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, trên thực tế khi chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, cùng với sự phát triển vượt trội của nền kinh tế trong ba thập kỷ gần đây, việc giới hạn tranh chấp KDTM chỉ phát sinh từ hợp đồng thương mại như Luật Thương Mại 1997 là không còn phù hợp. Tranh chấp này còn diễn ra trong nhiều hoạt động đa dạng hơn, như: tranh chấp giữa công ty và các thành viên trong công ty, giữa các thành viên trong công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức của công ty; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và đều vì mục đích lợi nhuận, đầu tư, tài chính, ngân hàng… 8 Tranh chấp KDTM là những tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại.
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại hay tranh chấp KDTM là tương đồng với nhau về mặt định nghĩa. Kết hợp với quy định về các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi bổ sung năm 2011 và BLTTDS năm 2015 sắp có hiệu lực, chúng ta có thể hiểu tranh chấp KDTM một cách cụ thể như sau: Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận. Đặc điểm giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự có những đặc điểm cơ bản sau: - Phải là tranh chấp phát sinh trực tiếp từ các hoạt động kinh doanh, thương mại; - Chủ thể tranh chấp phải là thương nhân, hoặc tổ chức, cá nhân khác hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận; - Nó phản ánh những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên tranh chấp. Tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả nguyên nhân chủ quan lẫn những nguyên nhân khách quan.
Có thể thấy đa số những tranh chấp phát sinh là do những nguyên nhân sau đây: - Do sự thúc đẩy của lợi nhuận: Mục đích của hoạt động kinh doanh là vì lợi nhuận. Chính vì lợi nhuận mà có những nhà kinh doanh vì xem trọng lợi nhuận đã chấp nhận phá vỡ hợp đồng, dẫn đến sự vi phạm hợp đồng. - Sự hạn chế trong kiến thức pháp luật của chủ thể kinh doanh. - Pháp luật vẫn còn những khoản trống nhất định không thể bao quát hết 9 được các quan hệ có thể xảy ra.
Ý nghĩa việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động KDTM và vì vậy việc giải quyết các tranh chấp này được coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ đó. Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, giải quyết tranh chấp KDTM là việc lựa chọn biện pháp, hình thức hay các hoạt động thích hợp nhằm hạn chế, khắc phục, loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỷ cương của xã hội. Quan hệ giải quyết tranh chấp KDTM được cấu thành bởi các yếu tố: - Chủ thể của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là các bên tranh chấp và bên thứ ba được các bên lựa chọn (nếu có); - Khách thể của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là sự cân bằng, hài hòa về mặt lợi ích giữa các bên tranh chấp; - Nội dung của quan hệ giải quyết tranh chấp phải là quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này. Việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh, góp phần ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động KDTM, đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, việc giải quyết phải nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật; đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên; không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh; Thứ hai, phải đảm bảo giữ bí mật kinh doanh, duy trì mối quan hệ hợp 10 tác, tín nhiệm và uy tín của các bên; Thứ ba, việc giải quyết phải đạt hiệu quả về mặt kinh tế (ít tốn kém nhất), tạo ra cân bằng, hài hòa về mặt lợi ích sao cho các bên cảm thấy hài lòng và có thể chấp nhận được; Thứ tư, kết quả giải quyết phải đảm bảo tính khả thi. Đây là tiêu chí hàng đầu mà các bên tranh chấp yêu cầu cần phải đạt được. Nguyên tắc của pháp luật về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại theo tố tụng dân sự 1. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng dân sự Đậy là nguyên tắc chung, cơ bản nhất chỉ đạo mọi hoạt động của TTDS, được thực hiện trong tấc cả các giai đoạn của TTDS, việc thực hiện đúng nguyên tắc này trong TTDS không những bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án chính xác, đúng pháp luật, ngăn ngừa những hành vi vi phạm pháp luật mà còn đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của con người. Quyền này được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Việc cụ thể hóa quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng vụ án KDTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh doanh khi tham gia tố tụng đều có quyền và nghĩa vụ như nhau và được pháp luật bảo vệ. Với nguyên tắc này, các chủ thể sẽ yên tâm, mạnh dạn hơn trong đầu tư, sản xuất kinh doanh; từ đó khuyến khích, tạo động lực thúc đẩy hoạt động của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phần không nhỏ trong tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo 11 quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán. Nguyên tắc thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.
Nguyên tắc xét xử tập thể Nguyên tắc này được quy định tại Điều 131 – HP 1992; Điều 6 Luật TCTAND; Điều 14 Luật TTDS. Việc xét xử vụ án bằng một tập thể sẽ phát huy được trí tuệ tập thể, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật. Nguyên tắc xét xử công khai Xét xử công khai là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của tòa án và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo tất cả các vụ án đều được xét xử công khai, minh bạch, trừ trường hợp cần giữ gìn bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Bí mật của đương sự trong tranh chấp kinh doanh thường là bí quyết về kinh doanh như phát minh, sáng chế.
có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của người kinh doanh. Nếu các bí mật đó bị tiết lộ thì có thể làm cho doanh nghiệp đó gặp khó khăn trong kinh doanh hoặc có thể bị phá sản. Vì vậy, họ có thể yêu tòa án xử kín. Tòa án là người có thẩm quyền quyết định cho phép đưa vụ án đó ra xét xử công khai hay xét xử kín.7 Nguyên tắc hai cấp xét xử Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.