Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về gian lận thƣơng mại, gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam. 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI, GIAN LẬN THƢƠNG MẠI QUA GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU.
Khái niệm và các hình thức gian lận thƣơng mại, gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu. Khái niệm gian lận thƣơng mại, gian lận thƣơng mại qua giá. Quan hệ kinh tế ngay từ đầu đƣợc xác lập trên cơ sở quan hệ sản xuất của các phƣơng thức sản xuất. Biểu hiện của nó trƣớc hết là các quan hệ thị trƣờng, tức là các quan hệ gắn liền với trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Các bên tham gia vào mối quan hệ kinh tế không đi vào trao đổi giá trị sử dụng đơn thuần mà nhằm vào mục đích lợi nhuận, từ đó kéo theo mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa các bên trong việc chạy theo lợi nhuận tối đa và cạnh tranh nhằm quyền thống trị thị trƣờng, làm nảy sinh những khía cạnh tiêu cực trong mối quan hệ này. Đó là ý thức chiếm đoạt lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào giao dịch thƣơng mại. Ý thức chiếm đoạt này làm nảy sinh các hành vi gian lận thƣơng mại. Sự phát triển nhanh chóng của lực lƣợng sản xuất gắn liền với những cố gắng mở rộng thị trƣờng và nơi tiêu thụ hàng hoá khiến cho sản xuất ngày càng đƣợc đẩy mạnh, giao lƣu thƣơng mại đƣợc tăng cƣờng.
Điều đó dẫn tới những nguy cơ gian lận thƣơng mại ngày càng tăng cả về quy mô, phạm vi, hình thức và tính chất từ đơn giản đến tinh vi, phức tạp. Nguy cơ gian lận thƣơng mại sẽ trở thành hiện thực và tỉ lệ thuận với chiều yếu kém về chính sách và khả năng kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý. Nhƣ vậy, bản chất của gian lận thƣơng mại là sự gian dối trong hoạt động mua bán hàng hoá nhằm mục đích chiếm đoạt lợi ích kinh tế một cách bất hợp pháp. Theo định nghĩa của Tổ chức Hải quan thế giới, gian lận thương mại (trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan) là những hành vi trái với qui định của của pháp luật về hải quan nhằm mục đích: “trốn thuế đánh vào việc nhập khẩu hàng hoá; trốn tránh những quy định về hạn chế hay cấm đoán đối với hàng hoá nhập khẩu; thu nhận những khoản thoái chi bất hợp lý; thu nhận những lợi thế cạnh tranh không bình đẳng trong kinh doanh”.
Theo đó, 7 z gian lận thương mại qua giá là hành vi khai báo gian dối giá trị thực của của hàng hoá nhập khẩu nhằm trốn tránh những nghĩa vụ quy định cho hàng nhập khẩu đó. Các hình thức gian lận thƣơng mại, gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu. Các hình thức gian lận thương mại phổ biến trong hoạt động nhập khẩu. Gọi là các hình thức gian lận thƣơng mại phổ biến bởi vì đây là những hình thức gian lận thƣơng mại có tính chất chung phổ biến nhất xảy ra trong thực tế đã bị cơ quan Hải quan phát hiện xử lý.
Trên thực tế có rất nhiều hình thức, thủ đoạn gian lận thƣơng mại khác đã và đang xảy ra ở dạng này hoặc dạng kia, ở vào đối tƣợng này hoặc đối tƣợng kia, ở thị trƣờng này hoặc thị trƣờng khác, thậm chí các cơ quan chức năng chƣa phát hiện đƣợc nên không thể đƣa ra nghiên cứu cùng một lúc đƣợc. Vì vậy, trên cơ sở những loại hình gian lận thƣơng mại chủ yếu này có thể bổ sung thêm những trƣờng hợp cụ thể làm sáng tỏ hành vi, thủ đoạn của gian lận thƣơng mại. Thực tế trên thế giới và ở nƣớc ta trung bình hàng năm đã và đang xảy ra hàng chục nghìn vụ gian lận thƣơng mại trên khắp các tuyến vận chuyển với nhiều nội dung, tình tiết phức tạp đa dạng. Nhƣng các chuyên gia kinh tế, các nhà Hải quan học đã nghiên cứu và sắp xếp phân loại, hệ thống hoá thành hai nhóm gian lận thƣơng mại chủ yếu là các hình thức gian lận thƣơng mại phổ biến và gian lận thƣơng mại qua giá để giúp cho công tác phát hiện xây dựng các biện pháp đấu tranh phù hợp và có hiệu quả.
Các hình thức gian lận thƣơng mại phổ biến bao gồm: Gian lận thƣơng mại do lợi dụng chính sách thuế nhƣ: - Chính sách xây dựng biểu thuế: Thuế nhập khẩu hiện hành còn đánh vào mục đích sử dụng từ đó có những mặt hàng cùng tính chất, nhƣng có thuế xuất nhập khẩu chênh lệch đến vài chục lần do mục đích sử dụng khác nhau nên tạo kẽ hở trong việc luồn lách trong kê khai, kiểm hoá, áp mã, áp giá tính thuế để đƣợc hƣởng thuế suất thấp, gây thất thu cho ngân sách nhà nƣớc. Ví dụ: Trong biểu thuế nhập khẩu ban hành kèm theo Quyết định số 280/TTg ngày 28/5/1994 của Thủ tƣớng chính phủ, mặt hàng xe đạp thuộc nhóm mã số 8712, qui định 871210: xe đạp đua có thuế suất 5%. Mã 871290: Loại khác có thuế suất 70%. Trong khi đó trung tâm tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng hàng 8 z hoá lại chƣa có quy định cụ thể tiêu chuẩn nhƣ thế nào đƣợc gọi là xe đạp đua là một sơ hở để các gian thƣơng nghiên cứu vận dụng một cách linh hoạt.
Kết quả là hàng vạn chiếc xe đạp kiểu dáng xe đua (xe thể thao, xe địa hình) đƣợc sản xuất ở nƣớc ngoài theo đơn đặt hàng trong nƣớc đã tràn vào Việt Nam với giá nhập khẩu bình quân khoảng 70USD/ chiếc đƣợc chủ hàng khai báo là xe đạp đua và hƣởng thuế suất là 5% nhƣng thực chất đó không phải là xe đạp đua (vì tiêu chuẩn của xe đạp đua theo qui định mới nhất là giá phải từ 2.000USD/ chiếc trở lên, nặng từ 20kg trở lên…) gây thất thu cho ngân sách nhà nƣớc hàng chục tỷ đồng. - Khai sai mã số thuế, giá tính thuế; - Kinh doanh “ma” đăng ký không trung thực trong kinh doanh để lợi dụng chế độ ƣu đãi về thời gian nộp thuế; - Khai sai hoặc thổi phồng số tiền khẩu trừ thuế, hoàn thuế. Gian lận do ý thức kém của đối tƣợng nộp thuế nhƣ: - Hình thức thứ nhất: Lợi dụng chế độ hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập Hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập là những hàng hoá, vật phẩm tạm thời đƣa vào trong nƣớc một khoản thời gian nhất định sau đó phải tái xuất toàn bộ ra khỏi lãnh thổ và tạm thời đƣa ra nƣớc ngoài những hàng hoá, vật phẩm sau đó phải tái nhập trở lại toàn bộ. Nguyên tắc cơ bản để thực hiện các loại hình tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập là: Phải đƣợc cơ quan có thẩm quyền (Bộ Thƣơng mại) cho phép; Phải khai báo thủ tục hải quan và chịu sự giám sát quản lý của cơ quan Hải quan; Phải tái xuất hoặc tái nhập toàn bộ hàng hoá vật phẩm sau khi tạm nhập tái xuất.
Lợi dụng chế độ này một số ngƣời đã tìm mọi thủ đoạn để gian lận nhằm thu lợi bất chính. Ví dụ: Đối tƣợng gian lận là rƣợu Vodka. Ngày 6/10/2003, Hải quan cửa khẩu biên giới đƣờng bộ giữa Nauy và Thụy Điển, thuộc thành phố OSLO, Nauy đã tiếp nhận làm thủ tục tạm nhập cho 6 chiếc xe tải chuyên chở 37.000 chai rƣợu Vodka từ Hunggari chuyển đến cảng OSLO để chuẩn bị đƣa xuống tàu biển tới Canađa. Nhƣng mấy ngày hôm sau chủ hàng đến cơ quan Hải quan để khai báo xin tái xuất toàn bộ lô hàng về lại Hunggari với lý do dung lƣợng của chai Volka không đúng nhƣ 9 z hợp đồng (hợp đồng quy định rƣợu Volka nhập khẩu mỗi chai là 0,7lít thực tế là loại volka 0,5lít) để đổi rƣợu khác.
Nhƣng sau đó trên đƣờng vận chuyển những nhà nhập khẩu rƣợu đã đƣa 6 xe ôtô rƣợu đến thành phố Eilsvol của Na uy để tiêu thụ. Nhƣ vậy gian lận thƣơng mại đối với loại hình tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập rất phổ biến và những hành vi này đƣợc tính toán từ trƣớc. Hành vi chủ yếu của loại hình này là mƣợn hình thức “tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập” để đƣa hàng trái phép vào trong nƣớc sau đó đƣa hàng trái phép ra nƣớc ngoài. Đặc trƣng cơ bản của loại hình gian lận này là ngƣời phạm tội cố tạo ra các bộ hồ sơ giấy tờ cốt để hợp thức hoá số hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu trái phép.
Có lúc ngƣời phạm tội còn cấu kết, móc ngoặc với một số cán bộ nhân viên trong cơ quan có thẩm quyền, hợp pháp hoá những hàng xuất nhập khẩu trái phép bằng con đƣờng “tạm nhập tái xuất” hoặc “tạm xuất tái nhập” để tiêu thụ ngày trong nội địa hoặc bán ra nƣớc ngoài. - Hình thức thứ hai: Lợi dụng chế độ sản xuất hàng gia công và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu. Các đối tƣợng gian lận thƣơng mại thƣờng nhập khẩu nguyên phụ liệu nhƣng không dùng để sản xuất, chế biến sản phẩm mà tiêu thụ trong nội địa; Nhập nguyên phụ liệu đƣa vào tiêu thụ nội địa và thay thế nguyên phụ liệu nội địa để sản xuất chế biến sản phẩm; Thông đồng nâng định mức tiêu hao nguyên phụ liệu để đƣa số dƣ thừa tiêu thụ trong nƣớc. Đặc điểm chính của loại hình gian lận thƣơng mại này nhƣ sau: Hoạt động gia công xuất khẩu và nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất là một số hình thức xuất nhập khẩu đặc biệt đã bị lợi dụng để thu lợi bất chính.
Hành vi gian lận thông thƣờng là khai báo không đúng số lƣợng, trọng lƣợng hàng hoá xuất nhập khẩu, sử dụng không đúng mục đích xuất nhập khẩu, kể cả lợi dụng nhập khẩu hàng cấm; Gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực gia công và nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất hàng xuất khẩu là hành vi phạm pháp khó phát hiện đấu tranh vì những hoạt động sản xuất mang yếu tố kỹ thuật đƣợc bảo đảm bằng sự thoả thuận của hai bên; Việc kiểm tra phát hiện những hành vi trong lĩnh vực gia công và nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất hàng xuất khẩu phần lớn phải chờ đến lúc thanh khoản các hợp đồng.