CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án cấp sơ thẩm 1. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại Quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật tố tụng vào mỗi thời điểm khác nhau, đây là yếu tố tác động đến tiến trình giải quyết tranh chấp. Việc vận dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đạt hiệu quả đến đâu phụ thuộc vào kết quà giải quyết trên thực tế và sự tin tưởng của các chủ thể trong tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Những tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện nay ngày càng phong phú về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Do đó, đòi hỏi cần có một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xã hội là một yêu cầu tất yếu, khách quan Thứ nhất, về thuật ngữ kinh doanh, thương mại là sự kết hợp giữ hai yêu tố kinh doanh và thương mại, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về kinh doanh, thương mại mà chỉ dừng lại ở mức độ quan điểm của nhiều tác giả trên cơ sở nghiên cứu luật nội dung, tố tụng và thực tiễn. Mặc dù, chưa có một khái niệm toàn diện song nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và trong các văn bản quy phạm pháp luật. Khái niệm về “kinh doanh” lần đầu tiên được thể hiện trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, cụ thể: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhầm mục đích sinh lợi”, khái niệm này cũng được giữ nguyên trong Luật Doanh nghiệp năm 1999.
9 Thuật ngữ “thương mại” được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thức trong một đạo luật, người ta biết đến nó với ý nghĩa thông thường là hoạt động mua bán với nhau nhầm mục đích sinh lợi. Nếu khái niệm về thương mại trong Luật Thương mại năm 1997 chỉ bó hẹp trong 14 hành vi điều chỉnh các quan hệ mua bán và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa theo quy định tại Điều 45 của Luật này thì hoạt động thương mại theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2003 lại có nội hàm mở rộng hơn hẳn. Theo đó, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân hay tổ chức kinh doanh bao gồm: “mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê; thuê mua, xây dựng, tư vấn, kĩ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hàng khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định pháp luật”. Rõ ràng, với quy định trên thì hoạt động thương mại được mở rộng thêm rất nhiều so với trước, tuy nhiên nó chỉ tồn tại trong một văn bản pháp quy mang tính tố tụng mà chưa tồn tại trong văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao mang tính nội dung.
Với phạm vi điều chỉnh theo diện hẹp nên việc áp dụng Luật thương mại năm 1997 điều chỉnh các hoạt động kinh đoanh thương mại trên thực tế đã làm phát sinh nhiều vấn đề không chỉ trong việc thực hiện các giao dịch mà có trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại, việc công nhận và cho thi hành các bản án, phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại năm 1997 càng được mở rộng cho phù hợp với các quy định và tập quán quốc tế cũng như khái niệm thương mại càng quy định rõ ràng và thống nhất trong Luật thương mại là vấn đề được đặt ra. Tại kỳ hợp thứ 7, khóa XI. Quốc hội đã thông qua Luật Thương mại năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 (thay thế Luật Thương mại năm 1997) đã khắc phục những hạn chế nêu trên.
Theo đó, khái niệm “hoạt động thương mại” đã được mở rộng hơn trước, cụ thể: “Hoại động thương mại là hoạt động nhằm mục đích 10 sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Với phạm vi điều chỉnh như trên hoạt động thương mại đã được mở rộng không còn giới hạn ở 14 hành vi thương mại như trong Luật Thương mại năm 1997, Việc mở rộng này giúp cho việc giải quyết tranh chấp thực hiện dễ dàng hơn, phù hợp với quy định của WTO và UNCITRAL khi giải thích về thuật ngữ “thương mại”1. Luật Doanh nghiệp số: 59/2020/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2021 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhưng khái niệm “kinh doanh” vẫn được giữ nguyên như trước, cụ thể: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Đây là một khái niệm rộng, bao hàm cả hoạt động kinh doanh và thương mại của các thương nhân.
Khái niệm “kinh doanh” trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực ngày 01/01/2021) tương đồng với khái niệm “hoạt động thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005. Điểm tương đồng có thể thấy đó là cả hai hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại đều có chủ thể là các cá nhân, tố chức hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, sản xuất, xúc tiến thương mại, cung ứng dịch vụ. cùng nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ hai, về khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Trước hết theo cách hiểu thông thường “tranh chấp” là sự xung đột, mẫu thuần giữa các bên. Trong đó, một hoặc các bên cho rằng lợi ích của minh bị xâm phạm nhưng không được phía bên kia đáp ứng. Theo nghĩa Tiếng Việt tranh chấp là giành giật quyền lợi phần mình, đây chính là đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn để về quyền lợi giữa hai bên2. 1 Theo UNCITRAL: Thuật ngữ “Thương mại” phải được giải thích theo nghĩa rộng để bao phủ hết các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại dù có hợp đồng hay không.
Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm (nhưng không bị giới hạn) những giao dịch sau: các giao dịch thương mại để cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; hợp đồng phân phối; chi nhánh hoặc đại diện thương mại, đại lý, cho thuê, gia công sản phẩm, sáng chế, tài chính, ngân hàng, hợp đồng, bảo hiểm khai thác hay nhượng đất, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh, chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ. 2 Nguyễn Chí Linh (năm 2014) “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr.5 11 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại trước đây chưa được đề cập, theo các văn bản như Bộ luật dân sự 1995. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì chỉ để cập khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh tế, cho đến khi Bộ luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005, BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 mới đề cập về khái niệm kinh doanh, thương mại.
Trong đó, BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 không định nghĩa cụ thể mà chỉ liệt kê các loại tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trước đây, theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì tranh chấp về hợp đồng kinh tế năm 1994 giữa pháp nhân với pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh gọi là tranh chấp kinh tế. Trong giai đoạn này cũng có những quan điểm cho rằng tranh chấp kinh tế là những tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ich kinh tế của các tố chức, cá nhân khi tham gia quan hệ kinh tế3. Quan điểm này mang tính chất khái quát, chưa cụ thể hóa và chưa bao quát hết các quan bệ kinh doanh, thương mại đa đạng, phong phú như hiện nay, đồng thời càng chưa thể hiện được bản chất tìm kiếm lợi nhuận của các bên4.
Như đã để cập ở phần trên, khái niệm về “kinh doanh” và “hoạt động thương mại” đã được quy định tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2021, khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua và khoản 1 Điều 3 Luật thương mại số 36/3005 QH11 được Quốc Hội khóa XI thông qua. Đồng thời căn cứ vào việc phân loại các quan hệ tranh chấp về kinh doanh, thương mại được xác định tại Điều 30 BLTTDS 2015 có thể hiểu: Tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể hiểu là những xung đột, bất đồng giữa các bên về quyền và lợi ích trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có mục đích lợi nhuận hoặc các tranh chấp khác không vì mục đích lợi nhuận". 3 Đào Văn Hội (năm 2004) Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, Nxb trị Quốc gia 4 Nguyễn Chí Linh (năm 2014) “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr.5 12 Các tranh chấp kinh doanh, thương mại phải hội đủ ba điều kiện: phát sinh trong hoạt động kinh doanh, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê; thuê mua, xây dựng, tư vấn, kĩ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hàng khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định pháp luật.