Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THẤM QUYEN GIẢI QUYẾT TRANH CHAP KINH DOANH THƯƠNG MẠI CUA TOA ÁN NHÂN DÂN 1. Những vấn đề chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại, hiểu theo quy định này thì HĐTM có nội hàm bị giới hạn, được hiểu theo nghĩa hẹp một cách chung chung. Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mai của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thươn mại; ký gởi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dung; tư van; kỹ thuật; li-xang; đầu tư; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyên hàng hóa, khách hàng bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Khi LTM được ban hành thì khái niệm HĐTM được hiểu theo nghĩa rộng hơn và kế thừa khái niệm HDTM của PLTTTM, quy định: Hoạt động thương mai là hoạt động nham muc dich sinh loi, bao gom mua bán hang hóa, cung ứng dich vu, đầu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, với cách hiểu này thì mọi tranh chấp phát sinh từ HDTM của các chủ thé tham gia đều là tranh chấp thương mại, chủ thể tham gia HĐTM không chỉ là các doanh nghiệp, mà còn là các chủ thé khác chỉ cần tham gia nhằm mục dich sinh lợi. Đến khi LTTTM được ban hành thì Luật này đã đương nhiên thừa nhận thuật ngữ HDTM và xác định thâm quyền giải quyết các tranh chap của Trọng tài mang tính rộng hơn và phù hợp với xu hướng thống nhất khi ban hành các văn bản pháp luật, cụ thé Luật này quy định về thâm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là các tranh chấp sau: 1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
Tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài. * Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Từ năm 1994, các HDTM tại Việt Nam diễn ra thường xuyên hơn, các tranh chấp từ HĐTM cũng bắt đầu phát sinh ngày càng tăng, trong khi hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này chưa có một khái niệm nào để biểu đạt cho các loại tranh chấp này. Tuy nhiên, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TTKT đã quy định liệt kê các loại tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế và TTKT. Từ việc Nhà nước ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, trong đời sông kinh tế xã hội xuất hiện khái niệm “tranh chấp kinh tế” đồng thời với khái niệm “tranh chấp HDKT”.
Với hàm ý tiếp cận này, “tranh chấp kinh tế” có nội hàm rộng hơn “tranh chấp HĐKT” bởi nó được hiểu bao gồm tất cả các tranh chấp có nội dung liên quan đến kinh tế, chứ không đơn thuần là các loại tranh chấp được liệt kê để xác định thâm quyên giải quyết như các Điều luật nêu trên, ngược lại “tranh chấp HDKT” lại mang nội hàm rất hẹp, chỉ những giao dịch từ HĐTM có xác lập hợp đồng thì khi tranh chấp phát sinh, mới được coi là “tranh chấp HDKT”, từ đó tạo nên sự bất tương thích giữa nội hàm của khái niệm với hàm ý được tiếp cận. Trong thời đại kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển về kinh tế, 10 các giao dịch trong HĐTM ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và phức tạp. Khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh với nhau cũng ngày càng trở nên phổ biến và đa dang. Trong mối quan hệ này, bên cạnh những quyền và lợi ích có được, còn có những xung đột, bat đồng về vi phạm quyên lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, từ đó thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp thương mại” là những thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới và được sử dụng phổ biến, rộng rãi ở Việt Nam trong thời gian gần đây.
Kinh đoanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi. Quy định này tranh chấp kinh doanh được hiểu là tranh chấp phát sinh trong các giai đoạn từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi nhuận, gan liền với hoạt động kinh doanh. Thêm vào đó, LDN quy định chủ thé tham gia HDTM chủ yếu là các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, quy định này mở rộng các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải quan hệ hợp đồng, nhưng lại bị giới hạn về mặt chủ thé tham gia. BLTTDS không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp thương mại” mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thương mại”, cụ thể tại Điều 30 của Bộ luật này đã quy định băng cách liệt kê các loại tranh chấp được coi là các tranh chấp về KDTM thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án.
Cách dùng thuật ngữ “kinh doanh, thương mại” mang tính kế thừa, kết hợp, nhưng vì trong mối tương quan giữa “kinh doanh” và “thương mại” thì thuật ngữ “kinh doanh” có nội hàm rộng hơn, dẫn đến khái niệm lãi “tranh chấp kinh doanh” đã bao hàm cả khái niệm “tranh chấp thương mại”, nên có ý kiến cho rằng thuật ngữ này bị thừa, dài dòng, không cần thiết, thậm chí là không chính xác. Song, từ những nhận xét nêu trên thì sự kết hợp giữa “kinh doanh” và “thương mại” trong thuật ngữ này là nhằm mở rộng về mặt chủ thể tham gia vào các hoạt động KDTM, cũng tạo điều kiện thuận lợi để phân biệt tranh chấp KDTM với các tranh chấp khác mà pháp luật có quy định, dé từ đó các cơ quan, tô chức giải quyết tranh chấp dé dang áp dung đúng chế định của loại tranh chấp đó. Như vậy, từ những nội dung nhận xét nêu trên thì khái niệm tranh chấp KDTM là khái niệm phù hợp nhất: đó là những tranh chấp trong HĐTM diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, các thương nhân (bao gồm các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh) từ các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi, là kết quả của sự bất đồng chính kiến hay sự xung đột về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các chủ thé ké từ khi tham gia, xác lập, thực hiện và chấm dứt các hoạt động KDTM. Từ đó có thể khái niệm giải quyết tranh chấp KDTM là việc các chủ thé kinh doanh, các thương nhân (bao gồm các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh) lựa chọn các phương thức, loại hình thích hợp mà pháp luật có quy định dé khắc phục, loại trừ các tranh chấp KDTM đã phat sinh, giải tỏa các mâu thuẫn, xung đột, bất đồng của các bên có tranh chấp KDTM, để đạt được kết quả mà các bên tranh chấp KDTM có thể chấp nhận được và tự nguyện chấp hành.
Đặc điểm của giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mai tại Tòa an Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại có những đặc điểm cơ bản sau đây: 12 Thứ nhất, thi tục giải quyết tranh chấp KDTM tai Toà án chỉ phát sinh và được tiễn hành trên cơ sở yêu cầu của một trong các bên quan hệ tranh chấp doi với Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Trong quá trình hợp tác dé thực hiện sản xuất, kinh doanh, việc xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh là điều không thể tránh khỏi. Với bản chất là một quan hệ pháp luật dân sự, dé cao tính tự nguyện, sự tự thỏa thuận giữa các bên, khi xảy ra tranh chấp trong KDTM, các bên cũng được tự thỏa thuận, thương lượng giải quyết với nhau. Bên cạnh đó, các bên cũng có thê thỏa thuận về việc các tranh chấp được giải quyết bằng phương thức hòa giải qua một bên thứ ba làm trung gian hòa giải hoặc đưa ra giải quyết tại Trọng tài thương mại theo thủ tục trọng tài. Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận được việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp giải quyết thay thế ngoai tố tụng hoặc việc giải quyết bằng các biện pháp nay không đạt được mục đích của họ, thì một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án - co quan nhân danh Nhà nước dé giải quyết tranh chấp.
Tranh chấp KDTM được giải quyết tại Tòa án cần thỏa mãn các điều kiện cơ bản như: (i) Một trong các bên quan hệ tranh chấp KDTM có đơn khởi kiện vụ án KDTM được làm (theo mẫu) đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; (1) Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Việc Tòa án nhận đơn khởi kiện theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Toa án cấp giấy báo nhận đơn khởi kiện cho người khởi kiện; nếu Toà án nhận đơn khởi kiện gửi qua bưu điện, thì Toà án gửi giấy báo nhận đơn khởi kiện để thông báo cho người khởi kiện biết; (iii) Việc khởi kiện được thụ lý bởi Toa án có thâm quyền sau khi đã xem xét kỹ lưỡng về bản chất quan hệ tranh chấp, tư cách khởi kiện của người khởi kiện, thời hiệu khởi kiện. 13 Có thé nói, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án được tiến hành theo trình tự do pháp luật quy định.
Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp, Tòa án tìm hiểu và xác nhận sự thật khách quan, đưa ra những đánh giá về mặt pháp lý dựa trên cơ sở và theo một trình tự do pháp luật quy định, đảm bảo tính công khai, minh bạch.