Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THỦ TỤC HOI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIEN TOA SƠ THAM DAN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục hỏi va tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm thủ tục hồi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự Hiện nay, trên thé giới tôn tại hai mô hình tố tụng phố biến là mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng xét hỏi. Sự khác biệt cơ bản giữa các truyền thống pháp luật là các van đề thủ tục tố tụng [18, tr.
Vì vậy, cùng một quan hệ pháp luật nội dung, mỗi quốc gia áp dụng những trình tự, thủ tục giải quyết khác nhau. Trong TTDS, trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ở mỗi giai đoạn tiến hành tố tụng là khác nhau. Xét xử sơ thâm là giai đoạn đầu tiêu của quá trình giải quyết vụ việc dân sự, bao gồm các hoạt động tố tụng khác nhau. Các hoạt động khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xứ sơ thâm là hoạt động tạo tiền đề để thực hiện xét xử lần đầu vụ án tại phiên tòa.
PTSTDS là phiên họp công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định dé Tòa án ra phán quyết về tòa bộ vụ việc dân sự hoặc những van dé còn tranh chấp giữa các bên đương sự [12, tr. Thông thường PTSTDS được tiễn hành theo trình tự thủ tục như sau thủ tục bat đầu phiên tòa, thủ tục hỏi, thủ tục tranh luận, tuyên án và nghị án. Trong đó, thủ tục hỏi và tranh luận là thủ tục quan trọng làm căn cứ để xác định chứng cứ, đánh giá chứng cứ, yêu cầu của đương sự. Đây là thủ tục trung tâm tại PTSTDS, là căn cứ để HĐXX đưa ra phán quyết cuối cùng.
Thủ tục hỏi và tranh luận tại PTSTDS có thể được hiéu như sau: Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, “hỏi” được hiểu là nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời; là nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu cầu được đáp ứng [46, tr. Còn theo Từ điển tiếng Việt năm 2005, “hỏi” là bảo người ta cho mình biết hoặc cho mình cái gi; là bảo người ta cho mình biết, bảo trả lời [47, tr. Như vậy, hiểu theo nghĩa triết tự thì “hỏi ” có 2 thê được hiệu là một động từ chỉ một hành động của một người làm rõ một sự việc bằng cách đặt câu hỏi trực tiếp cho người khác. Dưới góc độ khoa học phát lý, thuật ngữ “hỏi” không được định nghĩa một cách cụ thé.
Bởi lẽ khi sử dụng thuật ngữ này đã thấy rõ được hành động, và mục đích thực hiện hành vi của chủ thể hỏi. Tuy nhiên, xét dưới góc độ TTDS, “hỏi” là một thủ tục được thực hiện tại phiên tòa cân được hiệu một cách đây đủ và chính xác hơn. Trước đây, pháp luật TTDS gọi thủ tục “hỏi” là “xét hỏi”. Hai thuật ngữ này hoàn toàn khác nhau, và cần có sự phân biệt giữa hỏi và xét hỏi.
Xét hỏi là một động từ chỉ việc “(nhà chức trách) hỏi kỹ trực tiếp để phát hiện hành vi phạm pháp luật hoặc tìm kiếm sự thật về một vụ án” [46, tr. Xét hỏi mang tính chất xuất phát từ một chủ thé (người tiến hành tố tụng), không thể hiện được vai trò của đương sự trong vụ án dân sự và vô tình đã hình sự hóa quan hệ mang tính chất dân sự trong xét xử vụ án dân sự. Chúng tôi cho rằng nếu sử dụng thuật ngữ “xét hỏi” sẽ vô hình chung đã gán cho thủ tục này những đặc điểm không phải vốn có của nó, đồng thời làm hẹp phạm vi của khái niệm. Việc sử dụng thủ tục xét hỏi trong TTDS là không phù hợp với tính chất của các quan hệ trong TTDS.
Do đó, khi ban hành BLTTDS năm 2004, thủ tục xét hỏi đã được thay băng thủ tục hỏi tại PTSLDS [12, tr. Tuy nhiên, van dé không phải là thay đối tên gọi mà quan trọng phải thay đổi nội dung của thủ tục này. BLTTDS năm 2004 và LSĐBS năm 2011 mới chỉ thay đổi về hình thức, vẫn dé Tham phán chủ động thực hiện thủ tục hỏi và chưa dé cao vai trò của đương sự. Chính vì thé, thủ tục hỏi van còn rat nhiều nội dung mang tính chất của xét hỏi trước đây.
Thủ tục hỏi tại PTSTDS là hoạt động của các chủ thể tham gia quá trình tiễn hành tổ tụng. Trong đó, thủ tục hỏi chính là bước tạo tiền đề cho quá trình tranh luận được nhanh chóng, hiệu quả. Thủ tục hỏi tai PTSTDS có những đặc điểm sau: Một là, về chủ thể tiễn hành thủ tục hỏi: Việc giải quyết các vụ việc dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp về quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích đối lập nhau. Để giải quyết đúng đắn được những tranh chấp này, yêu cầu đặt ra với các chủ thể là người nào đưa ra yêu cầu với người khác thì phải có nghĩa vụ chứng minh.
Vì thế, khi xác định ai có quyên hỏi trước hết phải xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự. Tùy theo truyền 3 thống lập pháp, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ hiểu biết của người dan mà nội dung thủ tục hỏi tại PTSTDS quy định ở mỗi nước có sự khác nhau. Điển hình như ở Hoa kỳ, bắt đầu việc hỏi bằng cách Luật sư của nguyên đơn bắt đầu trình bày trước Tòa án về ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (tai liệu, nhân chứng). Luật sư của nguyên đơn trình bay xong quan điểm của nguyên đơn, Luật sư của bị đơn cũng đưa ra quan điểm của bị đơn bằng những chứng cứ (tài liệu, nhân chứng).
Các nhân chứng của mỗi bên trong khi khai báo tại Tòa về những việc họ biết đến vụ kiện, họ có thể bị chất vấn bởi luật sư của đương sự phía bên kia [24, tr. Còn ở Anh, phiên tòa xét xử vẫn diễn ra dưới hình thức thấm van, kiểu xét xử có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng các chứng cứ và lời khai bằng văn bản được sử dụng nhiều hơn. Mỗi bên sẽ trình bảy quan điểm, lập luận của mình trực tiếp bằng lời nói dựa trên các chứng cứ và lời khai của các nhân chứng được gọi tới tòa. Các Luật sư sẽ thay mặt cho thân chủ của mình đưa ra quan điểm về vụ việc, có quyền yêu cầu các bằng chứng, lời khai của nhân chứng và chuyên gia mà có lợi cho mình [45.
Như vậy, ở những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng, xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự nên chủ thể hỏi trước tiên phải là các bên đương sự hỏi để làm rõ chứng cứ, yêu câu của nhau, sau đó người tiên hành tô tụng mới hỏi. Ngược lại, đối với những quốc gia theo truyền thống tổ tụng xét hỏi (Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga.), Tòa án giữ vai trò là người điều khiển phiên tòa nên sau khi các đương sự trình bày thì Tòa án sẽ hỏi. Theo quy định của pháp luật TTDS Pháp, chủ tọa điều khiển phiên tòa, các bên sẽ trình bay quan điểm biện hộ của mình. Mặc dù không quy định thành thủ tục hỏi nhưng Tòa án có thể ngắt lời trình bày của đương sự nếu vì say sưa hoặc thiếu kinh nghiệm họ không thể trình bày lý lẽ của mình đủ mạch lạc hoặc sáng sủa để Tòa xem xét [44, tr.
Như vậy, ở những nước theo truyền thống tô tụng xét hỏi, vai trò của HDXX trong việc hỏi được đề cao nên Thâm phán bao giờ cũng là người đặt câu hỏi cho những người tham gia phiên tòa. Đối với nước Cộng Hòa nhân dân Trung hoa, trước đây, PTSTDS chủ yếu là Tham phán hỏi hai bên đương sự (tức là Tham phán tiến hành thẩm van hai bên đương sự). Trong những năm gần day, việc tô chức phiên tòa đã được cải cách, thay đổi han về chất bằng việc thực hiện tranh tụng giữa các bên đương sự. HĐXX yêu cầu nguyên đơn trình bày các chứng cứ và yêu câu kiện tung, bi đơn nêu ra các chứng cứ.
lý lẽ đôi 4 đáp lại nguyên đơn. HDXX nghe hai bên tranh tụng và chi nhac bên này trả lời rõ lý lẽ của bên kia hoặc yêu cau họ giải thích điều họ vừa trình bày [24, tr. Ở Việt Nam, trước khi BLTTDS được ban hành, chủ thể có quyền hỏi được quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, Điều 47 PLTTGQCVAKT và Điều 50 PLTTGQCTCLD như sau: “Khi xét hỏi, HDXX hỏi trước rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyên lợi của đương sự. Những người tham gia t6 tung có quyên dé xuất với HĐXX những vấn đề cân được hỏi thêm”.
Theo quy định của các Pháp lệnh nảy, sau khi nghe những người tham gia phiên tòa trình bày việc xét hỏi được thực hiện bởi HĐXX. Thứ tự hỏi trước tiên là HĐXX rồi mới đến Kiểm sát viên và người bảo vệ quyên lợi của đương sự. Như vậy, thủ tục xét hỏi được quy định trong các Pháp lệnh trước đây dé cao vai trò của Tòa án, vai trò của HĐXX trong việc hỏi. Quyền hỏi của các đương sự chỉ được thực hiện qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sau khi HDXX và Kién sát viên xét hỏi xong.
Từ cách xác định thứ tự của chủ thể có quyén hỏi sẽ quyết định ai sẽ là người phải trả lời. Trước hết, để xác định chứng cứ và các yêu cầu của đương sự người phải trả lời đầu tiên là người đưa ra yêu cầu, tức là nguyên đơn sau đó đến bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những người có nghĩa vụ chứng minh trong TTDS. Theo pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, người trả lời phải là các bên đương sự.
Mặt khác, khi đưa ra những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình thì đương sự phải trả lời về những tình tiết, sự kiện chưa rõ ràng, chưa đây đủ, còn mâu thuẫn tại PTSTDS. Thêm vào đó, người trả lời trong thủ tục hỏi còn là người giám định, người làm chứng - là người thực hiện các hoạt động phục vụ cho các chủ thể thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Người làm chứng và người giám định phải trình bày về các tình tiết của vụ án, trình bày kết luận giám định và phải trả lời những nội dung mà trình bảy chưa rõ, chưa đây đủ và còn mâu thuẫn.