CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẨN ĐẼ LÝ LUẬN VÈ PHÁP LUẬT GIẢI QUYÉT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI • TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điêm, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thưong mại Trong bối cảnh hội nhập kinh te toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng mờ rộng hoạt động ra quốc te, mang lại nhiều cơ hội phát triên nhưng đồng thời cũng tiềm ân nhiêu mi ro tranh chấp do sự kliác biệt về văn hóa, pháp luật và lợi ích. Mặc dù chính sách nhà nước luôn khuyến kliích hợp tác lành mạnh, tranh chap vần là một phần không thê tránh khòi cùa hoạt động kinh doanh. Các tranh chấp này có thê phát sinh tìr nhiều nguyên nhân như vi phạm hợp đồng, cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền sờ hữu trí tuệ, hoặc thậm chí chì là những hiêu lầm trong giao tiếp.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp, pháp luật Việt Nam đã thiết lập một hệ thống đa dạng các cơ chế giãi quyết, bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và kiện tụng. Tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng, các bên có thê lựa chọn phương thức phù hợp đê bảo vệ quyền lợi của minh. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại không chi là giãi quyết mâu thuẫn giữa các bên mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, củng cố niềm tin vào hệ thống pháp luật và thúc đây môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh. Do đó, việc lựa chọn phương thức giãi quyết phù hợp, nhanh chóng, hiệu quà và tiết kiệm chi phí là rất quan trọng, không chi giúp giải quyết mâu thuẫn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác và phát triển bền vững trong tương lai.
Khái niệm, đặc đìêm và phân loại tranh chấp kinh doanh, thương mại Đê hiêu rõ về giãi quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, cần làm rõ khái niệm và nội hàm cùa nó. "Tranh chấp" được định nghĩa là sự bất đong, xung đột về quyền lợi giữa các bên theo Black's Law Dictionary và Từ điên Tiếng Việt. Tuy nhiên, trong lĩnli vực kinh doanh thương mại, khái niệm này còn mang những sac thái riêng biệt, liên quan đen các hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các giao dịch khác. 9 Theo Từ điên Tiếng Việt của tiling tâm Từ điên học thuộc Viện Ngôn ngữ, tranh chấp có thê được hiêu là: “Bất đồng; làm hoặc thực hiện một số vấn đề nào đó trái ngược nhau.; giànli giật; giằng co nliau cái không rõ thuộc về bên nào”1.
Kliái niệm về tranh chấp kinh tế - thương mại đã được điều chinh qua các giai đoạn lịch sử đê phù hợp với thực tiễn kinh tế và pháp luật của tìrng thời kỳ. Việc hiêu rõ khái niệm này không chì có ý nghĩa về mặt pháp lý, giúp phân định rõ ràng các tranh chấp thuộc phạm vi điều chinh của pháp luật kinh doanh thương mại, mà còn giúp các bên liên quan có thê lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, bảo vệ quyền lợi cùa mình một cách tốt nliất. Hơn nữa, việc hiểu rõ khái niệm này còn đóng góp vào việc xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch và bền vững, nơi các tranh chấp được giải quyết một cách công bằng, hiệu quà và tuân thù pháp luật. Pháp lệnh Thù tục giãi quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/CP năm 1994 chi đề cập chung chung đến "tranh chấp kinh te" mà kliông có định nghĩa cụ thê.
Cách tiếp cận này, tuy bao quát nhiều loại tranh chap có yeu tố kinh tế, nhưng lại thiếu sự rõ ràng và chi tiết, không còn phù hợp với sự phát triển đa dạng và phức tạp của hoạt động kinh doanh, thương mại hiện đại. Đen năm 1997, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong Luật Thương mại (LTM) năm 1997 và Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Theo LTM 1997 tại Điều 238 quy định; “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện kliông đúng hợp đong trong hoạt động thương mại.” Theo khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định: “Hoạt động thương mại ỉà việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại cũa cá nhân, tô chức kinh doanh bao gôm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại ìý thương mại; ký’ gữi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vân; kỹ thuật; ìi - xăng; đâu tư; tài chỉnh, ngân hàng; bão hiêm; thăm dò, khai thác; vận chuyên hàng hoá, hành khách băng đườìig hàng không, đường biên, đường săt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định cũa pháp luật ”2. Có thê thay, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 không cung cấp địnli 1 Trang tâm Tù điển học thuộc Viện Ngôn ngữ (2000), Từ điéti tiếng Việt, Nxb Đà Nang.
2 khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại. 10 nghĩa cụ thê về tranh chấp thương mại. Tuy nhiên, khái niệm "hoạt động thương mại" được áp dụng rộng rãi đã tạo nên một liên kết về ý nghĩa giữa "thương mại" và "tranh chấp thương mại" theo quan diêm của pháp luật quốc te3. Điều này ngụ ý rằng tranh chấp thương mại bao gồm mọi sự bất đồng phát sinh từ các hoạt động thương mại.
Luật Thương mại hiện hành không định nghĩa cụ thê "tranh chấp thương mại" như Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003, nhirng khái niệm "hoạt động thương mại" tại Điều 3 đã phần nào thê hiện mối liên hệ giữa hai khái niệm này. Định nghĩa này tinh gọn hơn so với Luật Thương mại 1997 và Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003, bao gồm các hoạt động sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động liên quan. Hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đen nay không có địnli nghĩa chính thức về "tranh chấp kinh doanh". Tuy nliiên, từ khái niệm "kinh doanh" có thê liên kết với các tranh chấp trong lĩnh vực này.
Theo khoản 16 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, kinh doanh được định nghĩa là việc liên tục thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phàm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nham mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020, khoăn 21 Điều 4 đã chình sữa đê giới hạn mục đích của kinh doanh từ "mục đích sinh lợi" thành "mục đích tìm kiếm lợi nhuận". Sự thay đôi này không chi là sự thay đôi ừr "sinh lợi" sang "sinh lời" mà còn ảnh hường đến phạm vi của hành vi kinh doanh, có thê làm cho địnli nghĩa này trờ nên hẹp hơn hoặc rộng hơn so với định nghĩa trước đó. Điều này có thê dẫn đến phức tạp trong việc áp dụng pháp luật trong thực tiền, đặc biệt là trong việc xác định các lợi ích không phải là tiền bạc mà các chủ thê có thê có khi kinh doanli.
Có nhiều quan diêm cho rang việc giới hạn mục đích của kinh doanh chỉ vào việc tìm kiếm lợi nhuận là hợp lý, nhằm phù hợp với bàn chất cơ bản của hoạt động kinh doanh.4 Việc thay đôi hướng chi địnli mục đích trong kinh doanh thường được xem là phù hợp với tính chất cùa hoạt động này, nơi mà việc kiếm lời được coi là mục đích chính. Nhiều quan diêm cũng nhất trí rang 3 Hoàng Minh Chiến (2018), “Tranh chấp KDTMvà thấm quyền giúi quyết KDTM", Tạp chi Dân chù và Pháp luật. 4 Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Clú Midi (2019), Giáo trùìh Pháp luật về chũ thé kinh doanh, Nxb. Hồng Đức, tr.
11 mục đích của các hành vi kinh doanh thường được hiên là tối đa hóa lợi nhuận, dù cho kết quả thực tế của hoạt động kinh doanh như thế nào. Tranh chấp trong kinli doanh và thương mại là những moi bat đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thê tham gia vào các quan hệ pháp lý liên quan đến kinli doanh và thương mại. Mặc dù hoạt động kinh doanh và thương mại có nliiều nội dung chung như mục đích kiếm lợi, đầu tư, cung cấp dịch vụ và tiêu thụ sàn phâm, nhưng về bản chất, mục đích cùa mỗi hoạt động có thê khác nhau. Luật Thương mại hiện hànli vẫn phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này, đặc biệt là với thuật ngữ "mục đích sinh lợi" trong hoạt động thương mại, không nhầm lẫn với mục đích "tìm kiếm lợi nhuận".
Trong nền kinh tế Việt Nam, không phải tất cả các doanh nghiệp đều hướng đen mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Có những doanh nghiệp được thành lập chù yếu đê sản xuất, cung cấp sàn phẩm và dịch vụ thiết yếu cho cộng đồng trong một khu vực địa lý nhất định, hoặc nham bảo đàm quốc phòng, an ninh (còn gọi là hàng hóa, dịch vụ công ích). Mục đích của những hoạt động này không phải chù yếu là tìm kiếm lợi nhuận, mà hướng đen mục đích sinh lợi.5 Cách định nghĩa này chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng mà chì dừng lại ờ quan diêm của một số tác giã dựa trên các tiếp cận từ Luật nội dung và Luật tố tụng. Tuy nhiên, nó đã chi ra bản chất của các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh và thương mại, là sự mâu thuần và bất đồng về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động kinh doanh thương mại.
Bộ Luật Tố ựing dân sự hiện nay gộp chung các tranli chấp kinh doanh và thương mại thành "tranh chấp về kinh doanh, thương mại", thì Điều 30 của Bộ luật năm 2015 lại liệt kê 5 nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại cụ thê thuộc thâm quyền của Tòa án, cụ thê: 1. Tranh chấp giữa các chù thê kinh doanh: Tranh chấp phát sinh giữa các cá nhân, tô chức có đăng ký kinh doanh và hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Tranh chấp về sờ hữu trí tuệ và chuyên giao công nghệ: Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu, sir dụng và chuyên giao các tài sân trí tuệ, công nghệ. Tranh chấp chuyên nhượng phần vốn góp: Tranh chap liên quan đến việc 5 Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chi Minh (2020), Giáo trinh Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nxb.
Hong Đức, tr. 12 chuyên nhượng phần vốn góp trong công ty, bao gồm cà tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về phần vốn góp với công ty hoặc thành viên công ty. Tranli chap nội bộ công ty: Tranli chấp giữa công ty với các thành viên hoặc người quân lý, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thê, sáp nhập, chia tách và các vấn đề kliác cùa công ty.