CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HĐMBHHQT VÀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HĐMBHHQT 1. Khái quát về HĐMBHHQT 1. Định nghĩa về HĐMBHHQT 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa Để hiểu được bản chất của HĐMBHHQT, trước tiên phải hiểu rõ được khái niệm hợp đồng.
Theo pháp luật các nước trên thế giới thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một công việc” (Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp 1804) hoặc “Hợp đồng là khối nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên theo quy định của luật này và những quy định khác có liên quan. Từ các khái niệm trên, có thể nhận thấy trong hợp đồng, yếu tố quan trọng mang tính quyết định là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng về mặt pháp lý và chỉ khi có sự thỏa thuận giữa các bên thì khi đó mới xác lập sự tồn tại của một nghĩa nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự thỏa thuận này cũng phải tuân theo các quy định pháp luật của nhà nước về hợp đồng. Trong pháp luật về hợp đồng của Việt Nam không tìm thấy một định nghĩa về hợp đồng, mà chỉ có định nghĩa về hợp đồng dân sự: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau” (Điều 388 BLDS năm 2005).
Đến đây, có thể hiểu hợp đồng là kết quả sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, dưới sự giám sát của pháp luật thông qua các quy định bắt buộc phải tuân thủ khi giao kết hợp đồng. Xét về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa – hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa – cũng mang tính chất cơ bản của hợp đồng, là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Trong LTM 2005 không đưa ra định nghĩa thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ có khái niệm “mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Mặc dù LTM 2005 không đưa ra định nghĩa, nhưng trên cơ sở điều 428 BLDS 2005 quy định về hợp đồng mua bán tài sản, chúng ta có thể vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
Khái niệm HĐMBHHQT Hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và HĐMBHHQT. Như vậy có thể thấy rằng HĐMBHHQT khác so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước ở tính quốc tế. Tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu làm rõ về yếu tố quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế. Theo các văn bản pháp luật trong nước: Ở Việt Nam, các tiêu chí để định nghĩa HĐMBHHQT không được quy định cụ thể.
Theo Nghị định số 60/CP của Chính phủ ngày 6/6/1997 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong ba trường hợp sau: (i) Có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia; (ii) Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt ở nước ngoài; (iii) Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Tuy nhiên quy định nêu trên chưa bao quát hết được các tình huống phát sinh trong hợp đồng, mà đặc biệt là trong HĐMBHHQT, không thể không đề cập đến các yếu tố khác như là đồng tiền thanh toán, luật điều chỉnh và cơ quan giải quyết tranh chấp. HĐMBHHQT (hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài) cũng được đề cập trong LTM năm 1997 của nước ta. Điều 80 có quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài.” Điều quy định này chỉ đề cập đến những điểm khác biệt của loại hợp đồng này thông qua sự khác biệt trong quốc tịch của các chủ thể tham gia hợp đồng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định tính quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của chủ thể là một vấn đề rất phức tạp và trong một số trường hợp có thể gây trở ngại cho việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng. LTM 2005 không định nghĩa thế nào là HĐMBHHQT mà chỉ xác định mua bán hàng hóa quốc tế là quan hệ mua bán hàng hóa được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam. Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Với năm khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu nêu trên, có thể thấy LTM Việt Nam năm 2005 đã sử dụng tiêu chí hàng hóa phải là động sản; hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ); hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng… để xem xét tính quốc tế của HĐMBHHQT.
Theo các văn bản pháp luật quốc tế Tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện dựa trên cơ sở dấu hiệu lãnh thổ theo một số văn bản pháp lý quốc tế có liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Theo điều 1 của Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 thì HĐMBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Như vậy Công ước Viên cũng không nhấn mạnh đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định yếu tố nước ngoài trong HĐMBHHQT. Trong khi đó, Bộ nguyên tắc của UNITDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quan niệm tính chất quốc tế cần được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể, chỉ loại trừ những trường hợp không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào, nghĩa là khi tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia.
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, thông thường một hợp đồng được coi là HĐMBHHQT khi có một trong các yếu tố sau: Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài (kể cả trường hợp các bên giao kết hợp đồng có cùng quốc tịch và hợp đồng được thực hiện ở ngay nước mình). Hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch hoặc không cùng nơi cư trú hoặc không có trụ sở) và có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba. Hợp đồng được giao kết và thực hiện bởi các bên không cùng quốc tịch hoặc không cùng nơi cư trú (đối với cá nhân) hoặc không cùng nơi đóng trụ sở (đối với pháp nhân). Tóm lại, mặc dù có những quan niệm khác nhau về định nghĩa thế nào là HĐMBHHQT, song bản chất pháp lý của loại hình hợp đồng này trong các quan điểm lại rất tương đồng.
Theo tác giả, có thể hiểu HĐMBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, theo đó một bên (bên bán) có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên kia (bên mua) và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán và nhận hàng hóa. Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa phải được phép mua bán theo pháp luật của quốc gia bên bán và bên mua. Riêng đối với pháp luật Việt Nam, HĐMBHHQT không chỉ dừng lại ở các trường hợp các bên giao kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau mà còn bao gồm những trường hợp khác như các thương nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nước ngoài mua bán hàng hóa tại Việt Nam, các thương nhân Việt Nam mua bán hàng hóa ở nước ngoài, mua bán hàng hóa ở khu chế xuất. Đặc điểm và phân loại của HĐMBHHQT 1.
Đặc điểm của HĐMBHHQT HĐMBHHQT có những đặc điểm của một hợp đồng mua bán hàng hóa Trước tiên đó phải là hợp đồng song vụ: Theo điều 406, khoản 1 BLDS 2005 thì đây là hợp đồng mà mỗi bên đều phải có nghĩa vụ với nhau, quyền của một bên chính là nghĩa vụ tương ứng của bên kia. Cụ thể trong HĐMBHHQT bên bán hàng có quyền nhận tiền nhưng phải có nghĩa vụ cung cấp hàng hoá; còn bên mua hàng có nghĩa vụ trả tiền và quyền được nhận hàng. Nó khác với hợp đồng đơn vụ là chỉ có một bên có nghĩa vụ, ví dụ như hợp đồng tặng cho tài sản.