CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC ÁP DỤNG PHÁP LUAT GIẢI QUYET VIỆC NUÔI CON CHUNG CUA VO CHONG KHI LY HON 1.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 1. Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn * Khái niệm ly hôn. Đời sống hôn nhân không hạnh phúc, nguyên nhân mang đến hậu quả tất yếu là sự ly hôn của hai vợ chồng, từ dién tiếng việt có định nghĩa “Ly hôn là việc vợ chong bỏ nhau ”/còn được gọi với những tên gọi khác nhau tùy từng vùng miền như: Li dị, ray nhau, bỏ vợ, để vợ. Khi nhắc đến những từ ngữ này mọi người đều có thé hiểu là sự biểu đạt về việc vợ chồng không còn chung song với nhau và đời sống hôn nhân, gia đình cham dứt.
Bên cạnh ý nghĩa cham dứt một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, khái niệm ly hôn trên mang lại cách hiểu về sự tự do chấm dứt hôn nhân của vợ, chồng hơn là việc ly hôn được công nhận của nhà nước, pháp luật cho phép vợ chồng được chấm dứt hôn nhân. Khái niệm về ly hôn trong từ điển Tiếng việt mới diễn đạt được nội dung bên ngoài, hình thức của ly hôn mà chưa trình bày được những nôi dung, bản chất quan hệ pháp lý mà ly hôn mang đến cho vợ, chồng. Theo quy định của Luật HN&GD năm 2014, thuật ngữ ly hôn được định nghĩa như sau: “Ly hôn là việc cham đứt quan hệ vợ chồng theo ban án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo Từ điền luật học của Viện nghiên cứu khoa học 3, pháp lý- Bộ Tư pháp định nghĩa “Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyêt định theo yêu câu của vợ hoặc chông hoặc cả '.
Nguyễn Lan, Từ điền từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. Năm 2006, Tr 1057 > Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 hai vợ chồng °° Những khái niệm trên mang đậm tính chất quy định của pháp luật về ly hôn với nội dung diễn đạt được: hậu quả pháp lý, cơ quan nhà nước có thâm quyền công nhận ly hôn, người có quyền yêu cầu ly hôn.
Mặc dù ly hôn là quyền nhân thân của cả hai bên vợ chồng được pháp luật bảo hộ nhưng Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn trong khuôn khổ của pháp luật. Mác đã viet:“Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhán này đã chết, sự tôn tại của nó chỉ là bê ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải là sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết; bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan "`. Thật vay, ly hôn là hiện tượng sẽ xuất hiện một cách khách quan khi cuộc hôn nhân của hai vợ chồng “đã chết”, ly hôn sẽ chỉ là một dau chấm hết, là sự công nhận cho một mối quan hệ hôn nhân đã không còn tôn tại trên thực tế.
Nhưng hệ lụy của nó không hề nhỏ, cho nên van đề ly hôn của vợ, chồng phải được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước và pháp luât nhằm hạn chế các bên lạm dụng quyền tự do ly hôn gây ra hiện tượng ly hôn tran lan, ảnh hưởng đến sự 6n định của mối quan hệ trong gia đình và xã hội. Có thê hiểu ly hôn không chỉ là việc chấm dứt hôn nhân từ mong muốn cua VỢ chồng một cách thuần túy mà nó còn cần có sự công nhận của Tòa án băng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Sự công nhận ly hôn của Tòa án chính là thé hiện kiểm soát Nha nước đối với ly hôn. Điều này thé hiện ở chỗ Tòa án nhân danh Nhà nước kiểm soát việc ly hôn thông qua tiếp nhận giải quyết yêu cầu xin ly hôn của các đương sự.
Trong khi giải quyết 3, Viện nghiên cứu khoa học pháp lí- Bộ tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, Năm 2006, Tr 460.Anghen, Ban dự luật về ly hôn, Toàn tập, Toàn tập, Tập 1, Tr 231-235, Nxb Chính trị quốc gia —Sự thật, năm 1978, Hà Nội. yêu cau ly hôn, Tòa án xem xét trên thực tế về quan hệ của vợ chồng trong đời sống chung. Nếu có căn cứ xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng trầm trọng , mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Đây cũng chính là ly do khiến cho việc xin ly hôn của các bên đương sự cần phải có sự công nhận của Tòa án.
Từ những phân tích nêu trên có thé định nghĩa khái niệm chung nhất về ly hôn như sau: “Ly hôn là sự kiện pháp lý làm cham dứt quan hệ vợ chong trước pháp luật theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toa an”. * Hậu quả pháp lý của ly hôn. Về mặt lý luận, hậu quả pháp lý của ly hôn là kết quả dẫn đến từ một hành vi, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đối, cham dứt quan hệ pháp luật. Việc cham dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng là sự kiện pháp lý sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định đối với mối quan hệ HN&GD giữa vo, chồng và con cái.
Do đó, ly hôn tat yếu sẽ kéo theo hậu quả pháp ly làm phát sinh, thay đôi, cham dứt những quan hệ HN&GD, cụ thé : - Quan hệ nhân thân của vợ chồng chấm dứt, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm các quyền và nghĩa vụ như: Nghĩa vụ chung sống, nghĩa vụ yêu thương và chung thủy, nghĩa vụ chăm sóc và giúp đỡ nhau,.Nhưng một khi hai vợ chồng ly hôn các quyền và nghĩa vụ trên sẽ không phải ràng buộc thực hiện nữa. - Quan hệ tài sản của vợ chồng, khi ly hôn chế độ tài sản chung của vợ chồng được chấm dứt và tài sản chung được chia cho mỗi bên vợ chồng sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người. - Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ và con, van đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn được đặt ra về việc ai có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, van đề thăm nom, giáo dục con chung chưa thành niên, bên cạnh đó là sự đóng góp, câp dưỡng nuôi con chung của hai vợ chông. - Nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn, việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn được đặt ra nếu một bên vợ hoặc chồng túng thiếu, yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng.
Khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt (chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật). Điều này có nghĩa răng người vợ, người chồng khi đã ly hôn có quyên tự do kết hôn với người khác với tư cách là một người đang trong tình trạng độc thân, vì vậy kế cả khi vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ VỢ chồng thì phải đăng ký kết hôn lại vì pháp luật đã công nhận sự chấm dứt quan hệ hôn nhân trước đây giữa hai người. Những quyền và nghĩa vụ về nhân thân của hai vợ chồng trong giai đoạn hôn nhân được chấm dứt như: nghĩa vụ chung thủy giữa hai vợ chồng, nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng những quyền về nhân thân khác của vợ chồng với tư cách là cá nhân vẫn không thay đôi như: Họ tên, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo,.
quyền nhân thân này sẽ do các bên tự quyết định Khi ly hôn, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng được chấm dứt họ không còn ràng buộc trong mối quan hệ tình cảm vợ chồng với nhau nữa. Tuy nhiên quyết định, bản án công nhận ly hôn của Tòa án đối với vợ chồng một mặt nào đó không làm chấm dứt hắn sự liên hệ, ràng buộc giữa hai người từng là vợ chồng cũ của nhau. Bởi vì việc ly hôn chỉ làm cham dứt quan hệ hôn nhân VỢ, chồng chứ không làm chấm dứt quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng và con chung đồng nghĩa với việc hai bên déu phải thực hiện quyên, nghĩa vụ đối với con chung của mình. Bên cạnh đó trong một số trường hợp họ vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng với nhau khi một bên trong tình trạng túng quẫn và quyền lưu cư cũng được Luật HN&GD năm 2014 đặt ra trong trường hợp một bên vợ chồng khi ly hôn có khó khăn về chỗ ở theo đó: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở 10 hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chông có khó khăn về chỗ ở thì được quyên lưu cư trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân cham dut, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
”” Từ những phân tích trên có thé khái niệm: “Hậu quả pháp lý của ly hôn là kết quả của việc giải quyết ly hôn, ghi nhận trong phan quyết của Tòa án khi xét xử vụ việc ly hôn của vợ chẳng. Bao gom: cham dứt quan hệ vợ chong; phân chia tài sản của vợ chong; giao quyên trực tiếp nuôi con và quyết định mức cấp dưỡng nuôi con; cấp dưỡng giữa vợ chong khi có yêu câu ”. Khái niệm áp dụng pháp luật Thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể pháp luật khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, bằng ý chí của mình thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với quy tắc xử sự chung mà pháp luật quy định. ADPL là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp luật, Thi hành pháp luật, Sử dụng pháp luật, Áp dụng pháp luật.
ADPL là hoạt động mang tính chất cá biệt hóa các quy phạm pháp luật giải quyết quan hệ pháp luật cụ thé trong đời sống xã hội. Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật trên, thì ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, bởi chủ thê thực hiện ADPL là chủ thể mang quyền lực nhà nước.