Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự của Tòa án 1. Tư trưởng Hồ Chí Minh về khiếu nại và giải quyết khiếu nại 1. Khiếu nại là một quyền cơ bản, quyền dân chủ của công dân Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta luôn coi giải quyết khiếu nại chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Làm tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại là một hình thức thể hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước. Do đó, việc quan tâm làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại là thể hiện bản chất dân chủ, là biện pháp củng cố mối quan hệ giữa dân với Đảng và Nhà nước. Khiếu nại là phương thức giám sát của nhân dân đối với Nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước và luôn đề cao vai trò giám sát của quần chúng đối với cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức. Làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại của công dân là góp phần củng cốmối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Theo tư tưởng của Người việc giải quyết khiếu nại nhanh chóng, kịp thời sẽ tạo được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân, thể hiện vai trò giám sát của nhân dân đối với công việc của Đảng và Chính phủ.
Khái niệm chung về khiếu nại 1. Khái niệm khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại Khiếu nại là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó cụm từ khiếu nại được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant" có nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình [27, tr. Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm [31, tr.
Như vậy, khiếu nại theo nghĩa chung nhất là việc cá nhân hay tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa chữa một việc làm mà họ cho là không đúng, đã, đang hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ. Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [22, tr. Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, một quyền có tính chất chính trị và pháp lý của công dân, là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên quan chặt chẽ và chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Chính vì vậy trên cơ sở Hiến pháp, đã có nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước ta quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, đặc biệt là Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2004 và 2005), Luật Khiếu nại năm 2011.
Theo quy định của Luật khiếu nại thì khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán 13 bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại hành chính, đó là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Như vậy, xét về bản chất việc thực hiện quyền khiếu nại thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân mà trong đó bên đi khiếu nại luôn luôn là công dân (hoặc cơ quan, tổ chức trong một số trường hợp) chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước. Còn bên bị khiếu nại là cơ quan hành chính Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước.
Như vậy, khiếu nại quy định trong Luật này được hiểu là khiếu nại hành chính, đó là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; khái niệm này chỉ giới hạn đối với những khiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước. Khái niệm khiếu nại theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự Điều 25 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo [23, tr. Tại khoản 1 Điều 499 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố 14 tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [23, tr.
Theo quy định này, thì khái niệm khiếu nại trong tố tụng dân sự hẹp hơn so với khiếu nại hành chính. Bởi lẽ, lĩnh vực khiếu nại trong tố tụng dân sự chỉ giới hạn trong các hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự. Xét về bản chất, một bên giải quyết khiếu nại là: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong lĩnh vực dân sự và một bên người khiếu nại là: Đương sự trong tố tụng dân sự. Do đó, khái niệm khiếu nại trong tố tụng dân sự có nội hàm hẹp hơn khái niệm khiếu nại hành chính.
Như vậy, khái niệm khiếu nại trong hoạt động tố tụng dân sự được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu người có thẩm quyền xem xét lại các quyết định, hành vi, việc thực hiện nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng dân sựmà họ có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm, vai trò của giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự 1. Đặc điểm (i) Chủ thể trong khiếu nại trong tố tụng dân sự Chủ thể thực hiện việc khiếu nại trong tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 499 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân”[23, tr.173], tức là một hoặc các bên đương sự đang tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu nại được thực hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của việc giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng ban hành nếu có khiếu nại, kiến 15 nghị thì không giải quyết theo trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định tại chương XLI này mà sẽ được giải quyết theo trình tự tương ứng ở từng chương của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. (i) Các quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại Theo Khoản 1 Điều 500 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, người khiếu nại có các quyền: “Quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khiếu nại đối với quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [23, tr. “Quyền được khiếu nại trong bất cứ giai đoạn nào nào của quá trình giải quyết vụ án dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [23, tr. “Quyền rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại” [23, tr.
“Quyền được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại” [23, tr. “Quyền được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do quyết định, hành vi trong tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự gây ra” [23, tr. Khoản 2 Điều 500, người khiếu nại có các nghĩa vụ: “Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết: Việc khiếu nại phải được gửi đến đúng người có thẩm quyền, không được lạm dụng quyền của mình để gửi khiếu nại khắp nơi gây khó khăn cho quá trình giải quyết khiếu nại” [23, tr. “Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó” [23, tr.
16 “Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án” [23, tr. “Chấp hành quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại” [23, tr.