Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng, các quan hệ xã hội ngày càng mở rộng kéo theo nguy cơ gia tăng xung đột lợi ích, dẫn đến tình hình khiếu nại diễn biến phức tạp và gay gắt, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai và môi trường. Giai đoạn 2020–2023, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội, làm phát sinh thêm nhiều vướng mắc trong quản lý hành chính. Thanh tra Chính phủ (TTCP) với vị thế là cơ quan quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại trên phạm vi cả nước phải đối mặt với áp lực lớn từ các đoàn khiếu nại đông người, nhiều vụ việc kéo dài, quá khích ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Thực tiễn này đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại tại cơ quan đầu ngành.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Chí Đạt xác định 03 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu thực tiễn hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ trên cơ sở lý luận và quy định pháp luật hiện hành.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giải quyết khiếu nại tại Thanh tra Chính phủ giai đoạn 2021–2023 nhằm chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, bất cập và làm rõ nguyên nhân, rút ra các bài học kinh nghiệm.
  3. Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp bảo đảm, hoàn thiện hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ.
  • Phạm vi nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính.
  • Phạm vi không gian: Hoạt động khiếu nại hành chính tại cơ quan Thanh tra Chính phủ.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023.

Về tình hình nghiên cứu, đề tài kế thừa và tổng thuật các công trình đi trước, bao gồm luận văn của Phương Trung Kiên (2017) về pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính; Hoàng Thùy Linh (2022) về thực trạng tại địa phương; Nguyễn Thị Thu Hồng (2010) tại thành phố Tuy Hòa; Nguyễn Hoài Thoa về khiếu nại đất đai tại Hải Dương; Lê Tiểu Vy về bảo đảm quyền khiếu nại đất đai tại Đắk Lắk; Nguyễn Thị Minh Hà (2002) về thẩm quyền giải quyết; Nguyễn Tiến Dũng (2011) về giải phóng mặt bằng tại Nam Định; và bài viết của Nguyễn Anh Tuấn (2023) trên Tạp chí Cộng sản. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước chủ yếu tiếp cận ở phạm vi địa phương hẹp, chưa đánh giá tổng thể ở cấp cơ quan quản lý nhà nước trung ương như Thanh tra Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm dựa trên Hiến pháp năm 2013, Luật Khiếu nại năm 2011 (Luật số 02/2011/QH13), Từ điển tiếng Việt và Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp. Khiếu nại được định nghĩa là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Giải quyết khiếu nại là chuỗi hoạt động thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của chủ thể có thẩm quyền theo trình tự chặt chẽ do luật định.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành được tác giả sử dụng làm căn cứ pháp lý trực tiếp bao gồm:

  • Luật Khiếu nại năm 2011;
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Luật Tiếp công dân năm 2013;
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
  • Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại;
  • Nghị định số 81/2023/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ;
  • Quyết định số 416/QĐ-TTCP ban hành Quy chế làm việc của Thanh tra Chính phủ;
  • Quyết định số 444/QĐ-TTCP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ Thanh tra;
  • Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Về phương pháp luận, khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng:

  • Phương pháp phân tích: Đánh giá các khía cạnh pháp lý, quy trình nghiệp vụ và thực tiễn giải quyết khiếu nại tại Thanh tra Chính phủ.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, đối chiếu dữ liệu từ các báo cáo tổng kết công tác năm của Thanh tra Chính phủ, giáo trình, tạp chí chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận thực tiễn tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư và vận hành nghiệp vụ tại cơ quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính, tập trung vào các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia (Điều 12 Luật Khiếu nại 2011), như quyền nhờ luật sư tư vấn/ủy quyền, quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong thời hạn 07 ngày, quyền rút khiếu nại ở bất kỳ giai đoạn nào.

Về thẩm quyền giải quyết tại Thanh tra Chính phủ (gồm 13 đơn vị phụ trách và 6 đơn vị trực thuộc), chương này phân định rõ:

  • Tổng Thanh tra Chính phủ: Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình hoặc của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc Thanh tra Chính phủ (các Cục, Vụ, đơn vị sự nghiệp) đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc hết thời hạn chưa được giải quyết.
  • Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình và của cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý trực tiếp.

Quy trình giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ được phân tích theo 3 bước chuẩn hóa:

  1. Bước 1 - Chuẩn bị giải quyết: Tiếp nhận đơn, nghiên cứu sơ bộ hồ sơ, ban hành quyết định thụ lý vụ việc và lập kế hoạch xác minh.
  2. Bước 2 - Tiến hành xác minh: Công bố quyết định xác minh; áp dụng các biện pháp nghiệp vụ thu thập, xử lý thông tin, bằng chứng; xác minh thực tế; trưng cầu giám định chuyên môn (theo Mẫu số 09 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP); tổ chức đối thoại trực tiếp giữa các bên; đánh giá chứng cứ và lập báo cáo kết quả xác minh theo khoản 4 Điều 29 Luật Khiếu nại 2011.
  3. Bước 3 - Kết thúc giải quyết: Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại; gửi quyết định trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc đối với giải quyết lần đầu và không quá 07 ngày làm việc đối với giải quyết lần hai; công khai quyết định trong thời hạn 15 ngày; tổ chức thi hành quyết định có hiệu lực và hoàn thành đóng, bàn giao hồ sơ lưu trữ trong thời hạn 30 ngày.

Chương 1 cũng phân tích 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này: yếu tố khách quan (cơ sở vật chất, trụ sở, tài chính; cơ chế phối hợp liên ngành; công tác kiểm soát của các thiết chế quyền lực) và yếu tố chủ quan (trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị của công chức; tính độc lập tương đối của tổ chức bộ máy cơ quan thanh tra).

Chương 2: Thực trạng giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương 2 phản ánh thực tế công tác giải quyết khiếu nại giai đoạn 2021–2023. Tác giả nhận định phần lớn các vụ việc khiếu nại phức tạp, đông người thuộc về lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai (thu hồi đất thực hiện dự án đô thị, khu công nghiệp; áp giá bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, tranh chấp quyền sử dụng đất).

Thực trạng tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn được minh họa qua các vụ việc cụ thể tại cơ quan:

  • Vụ việc năm 2021: Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của công chức Nguyễn Thị B (Cục trưởng đang công tác tại Cục II thuộc TTCP) liên quan đến hành vi không thực hiện nhiệm vụ công vụ, giao cho một Phó Tổng Thanh tra Chính phủ trực tiếp xác minh, xử lý.
  • Vụ việc năm 2022: Công chức Tạ Hà X khiếu nại quyết định kỷ luật khiển trách do Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành; Tổng Thanh tra Chính phủ đã giao cán bộ thẩm tra, tổ chức đối thoại, giải thích cặn kẽ và giải quyết dứt điểm vụ việc.
  • Vụ việc năm 2023: Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương thụ lý giải quyết khiếu nại của công dân đối với hành vi hành chính có thiếu sót của viên chức Trần Anh T trong quá trình xử lý công việc tại Ban.
  • Tại đơn vị sự nghiệp trực thuộc: Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra thụ lý, xử lý đơn khiếu nại quyết định kỷ luật lao động của viên chức Nguyễn Thị . (Phòng Hành chính) căn cứ theo thẩm quyền tại Quyết định số 444/QĐ-TTCP.

Bên cạnh các kết quả tích cực về tính hợp hiến, hợp pháp và nâng cao tỷ lệ giải quyết đơn thư, khóa luận chỉ ra 06 nhóm bất cập pháp lý và thực tiễn nổi cộm:

Nhóm vấn đề bất cập Nội dung chi tiết được phản ánh trong khóa luận
Quy trình giải quyết Tính công khai, minh bạch còn hạn chế; cơ chế tranh luận một chiều; người khiếu nại ít được tiếp cận hồ sơ; vai trò tham gia của luật sư còn mờ nhạt.
Thời hạn giải quyết Điều 28 Luật Khiếu nại 2011 quy định thời hạn 30–45 ngày (vùng sâu, xa là 45–60 ngày) không đủ đáp ứng thực tế các vụ việc phức tạp, liên quan nhiều cấp ngành.
Thời hiệu khiếu nại Luật Khiếu nại quy định thời hiệu 90 ngày, trong khi Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm, tạo ra sự thiếu đồng bộ và rào cản pháp lý.
Khiếu nại đông người cùng nội dung Xuất hiện tình trạng cùng một vụ việc nhưng công dân chọn nhiều kênh khác nhau (người khởi kiện ra Tòa án, người khiếu nại cơ quan hành chính) nhưng thiếu quy chế xử lý phối hợp.
Trưng cầu giám định Thiếu hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục tạm ứng, bố trí kinh phí thực hiện và thủ tục thanh quyết toán chi phí giám định chuyên môn.
Ứng dụng CNTT Phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia về giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được các bộ, ngành, địa phương cập nhật dữ liệu thường xuyên, đồng bộ; còn hạn chế về an ninh mạng.

Đánh giá nguyên nhân, tác giả chỉ ra nguyên nhân ưu điểm là do sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo TTCP, cơ sở vật chất từng bước cải thiện và đội ngũ cán bộ 100% có trình độ từ cử nhân trở lên, thường xuyên được đào tạo tại Học viện Hành chính Quốc gia và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ngược lại, nguyên nhân hạn chế bắt nguồn từ sự bất cập, thiếu ổn định của pháp luật đất đai; gián đoạn do dịch Covid-19; sự buông lỏng quản lý, tâm lý né tránh, đùn đẩy trách nhiệm của cán bộ cơ sở và năng lực hòa giải cơ sở chưa cao.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển dựa trên Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kết hợp phương hướng quản lý của Nhà nước: gắn trách nhiệm người đứng đầu theo Luật Tiếp công dân năm 2013, lấy kết quả giải quyết khiếu nại làm tiêu chí đánh giá cán bộ, tăng cường thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước ở các điểm nóng đất đai, tài chính, đầu tư.

Các giải pháp trọng tâm được tác giả đưa ra gồm:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại năm 2011 để khắc phục mâu thuẫn giữa khoản 6 Điều 2 (định nghĩa người giải quyết khiếu nại gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân) với các Điều 17 đến 26 (chỉ quy định thẩm quyền thuộc về cá nhân người đứng đầu); điều chỉnh thống nhất thời hiệu khiếu nại và thời hiệu khởi kiện hành chính; quy định rõ các dạng quyết định hành chính bị khiếu nại và chế tài xử lý người lợi dụng quyền khiếu nại.
  2. Cải tiến quy trình nghiệp vụ: Xây dựng và triển khai mô hình tiếp công dân trực tuyến; nghiên cứu phát triển quy trình giải quyết khiếu nại trực tuyến nhằm tạo thuận lợi cho người dân và tiết kiệm chi phí; hoàn thiện cơ chế đối thoại, giám định chuyên môn và phối hợp liên ngành.
  3. Nâng cao năng lực nguồn lực: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và kỹ năng xử lý tình huống cho cán bộ, công chức ngành Thanh tra; đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cấp và vận hành thống nhất Phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm an toàn thông tin mạng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và luận giải các kết quả chính gắn với dữ liệu thực tế tại Thanh tra Chính phủ giai đoạn 2021–2023:

  • Làm rõ thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai tại cơ quan Thanh tra Chính phủ theo phân cấp giữa Tổng Thanh tra Chính phủ và Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc (13 đơn vị chuyên môn và 6 đơn vị trực thuộc), minh chứng qua 04 vụ việc cụ thể phát sinh trong giai đoạn 2021–2023 (vụ việc công chức Cục II năm 2021, vụ việc kỷ luật công chức năm 2022, vụ việc viên chức Ban Tiếp công dân Trung ương năm 2023 và vụ việc tại Trường Cán bộ Thanh tra).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý thực định: sự vênh lệch giữa thời hiệu khiếu nại 90 ngày (Luật Khiếu nại) và thời hiệu khởi kiện 01 năm (Luật Tố tụng hành chính); bất cập trong quy định thẩm quyền giải quyết của cơ quan/tổ chức tại Điều 2 so với các điều 17–26 Luật Khiếu nại; khoảng trống pháp lý về kinh phí trưng cầu giám định chuyên môn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp bám sát thực tiễn ngành Thanh tra, trọng tâm là kiến nghị sửa đổi Luật Khiếu nại 2011, thiết lập quy trình giải quyết và tiếp công dân trực tuyến, và đẩy mạnh khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn thư.

Đóng góp mới của khóa luận so với các nghiên cứu tiền nhiệm là chuyển dịch trọng tâm từ các nghiên cứu vi mô tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện sang đánh giá toàn diện hoạt động giải quyết khiếu nại ở cấp vĩ mô tại cơ quan Thanh tra Chính phủ – cơ quan quản lý nhà nước đầu ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn được tác giả thừa nhận:

  • Dữ liệu thực tiễn và số liệu vụ việc khảo sát tập trung chủ yếu trong khung thời gian 03 năm (2021–2023), chưa bao quát được chuỗi số liệu dài hạn để so sánh biến động qua các thời kỳ.
  • Một số thông tin, dữ liệu về các vụ việc khiếu nại cụ thể tại cơ quan phải thay đổi chi tiết để bảo đảm tính chất bảo mật nghiệp vụ hành chính.

Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo từ đề tài bao gồm: Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính và Tòa án khi xử lý các vụ việc khiếu nại đông người; đánh giá tác động của Luật Đất đai mới đối với việc giảm thiểu tranh chấp hành chính; và xây dựng khung pháp lý toàn diện cho mô hình giải quyết khiếu nại điện tử (trực tuyến) tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Thanh tra, và Quản lý nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia cũng như các cơ sở đào tạo luật.
  • Cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, tham mưu xử lý đơn thư và thanh tra viên tại Thanh tra các bộ, ngành, địa phương đang tìm kiếm tài liệu đối chiếu quy trình nghiệp vụ thực tế.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Phân tích quy trình xác minh 3 bước kèm các mốc thời hạn luật định tại Chương 1 và hệ thống các bất cập pháp lý đối chiếu giữa Luật Khiếu nại với Luật Tố tụng hành chính tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong những trường hợp cụ thể nào?
Theo quy định pháp luật được phân tích trong khóa luận, Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình hoặc của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp. Đồng thời, Tổng Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc Thanh tra Chính phủ (các Cục, Vụ, đơn vị sự nghiệp) đã giải quyết lần đầu nhưng vẫn còn khiếu nại hoặc đã hết thời hạn mà chưa được giải quyết.

2. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn gì về thời hiệu giữa Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố tụng hành chính 2015?
Khóa luận chỉ rõ: Luật Khiếu nại năm 2011 quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định/hành vi hành chính. Trong khi đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án là 01 năm. Sự chênh lệch này dẫn đến việc sau khi hết thời hiệu khiếu nại hành chính, người dân chuyển sang khởi kiện tại Tòa án, gây cản trở và thiếu đồng bộ trong việc thi hành các quyết định hành chính đã có hiệu lực.

3. Khóa luận nêu các mốc thời gian luật định nào ở bước kết thúc quy trình giải quyết khiếu nại?
Các mốc thời gian bắt buộc gồm:

  • Gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu cho người khiếu nại trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc.
  • Gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc.
  • Công khai quyết định giải quyết khiếu nại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ban hành.
  • Bàn giao hồ sơ vụ việc đã đóng cho bộ phận lưu trữ cơ quan trong thời hạn 30 ngày.

4. Bất cập về chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tại Luật Khiếu nại 2011 được tác giả phân tích ra sao?
Tác giả chỉ ra sự mâu thuẫn nội tại trong Luật Khiếu nại 2011: Khoản 6 Điều 2 giải thích "người giải quyết khiếu nại" là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Tuy nhiên, các điều khoản quy định thẩm quyền cụ thể (từ Điều 17 đến Điều 26) lại chỉ trao quyền giải quyết cho các cá nhân người đứng đầu (Thủ trưởng cơ quan hành chính), không ghi nhận thẩm quyền giải quyết của pháp nhân cơ quan, tổ chức, dẫn đến lúng túng và đùn đẩy trách nhiệm trên thực tế.

5. Những vụ việc thực tế nào được tác giả trích dẫn để minh họa cho thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ?
Khóa luận dẫn chứng vụ việc năm 2023 tại Ban Tiếp công dân Trung ương, trong đó Trưởng Ban thụ lý và xử lý đơn khiếu nại của công dân đối với hành vi hành chính của viên chức Trần Anh T; và vụ việc Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra thụ lý, ban hành quyết định giải quyết đơn khiếu nại kỷ luật lao động của viên chức Nguyễn Thị . (Phòng Hành chính) theo Quyết định số 444/QĐ-TTCP.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Chí Đạt đã nghiên cứu toàn diện và có hệ thống hoạt động giải quyết khiếu nại của Thanh tra Chính phủ giai đoạn 2021–2023 trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Đề tài làm rõ thẩm quyền, quy trình 3 bước giải quyết khiếu nại, đồng thời chỉ ra các bất cập nổi cộm về thời hạn, thời hiệu, chi phí giám định và ứng dụng công nghệ thông tin. Các phương hướng và giải pháp đề xuất, đặc biệt là kiến nghị sửa đổi Luật Khiếu nại năm 2011 và triển khai mô hình trực tuyến, mang giá trị khoa học và thực tiễn cao đối với công tác quản lý nhà nước ngành Thanh tra.