Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Dệt may là một trong những ngành trọng điểm của ngành công nghiệp Việt Nam. Được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, dệt may Việt Nam phát triển với tốc độ ấn tượng và đưa xuất khẩu dệt may Việt Nam đứng thứ năm về kim ngạch xuất khẩu dệt may trên thế giới. Và một thị trường có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế khu vực nói riêng là thị trường Mỹ.
Mặc dù, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ với kim ngạch ngày càng tăng qua các năm, nhưng hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vẫn chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ là mục tiêu mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hướng tới.1 Cơ sở khoa học về sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ Cơ sở khoa học để khẳng định đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ là một tất yếu khách quan và để đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này là dựa trên các học thuyết sau: 1.1 Thuyết trọng thương Thuyết trọng thương ra đời ở Châu Âu, mạnh mẽ nhất ở Anh, Pháp vào khoảng thế kỷ XV. Theo thuyết trọng thương: sự thịnh vượng của quốc gia được thể hiện qua khối lượng tiền tệ mà quốc gia đó nắm giữ, được xem là tài sản quốc gia.
Con đường duy nhất để tăng tài sản quốc gia là phải phát triển ngoại thương và nhấn mạnh rằng xuất siêu là biện pháp hữu hiệu nhất trong hoạt động ngoại thương. Hoạt động ngoại thương được hiểu theo Luật trò chơi bằng không (Zero – sum game) nghĩa là lợi ích kinh tế mà một quốc gia thu được là từ nguồn lợi của quốc gia khác; Thương mại quốc tế không chỉ dựa vào tiềm năng của một quốc gia mà Chính phủ đóng một vai trò quan trọng thông qua các chính sách bảo hộ mậu dịch, độc quyền ngoại thương để chi phối toàn bộ thị trường nhằm đạt được mục tiêu xuất siêu mang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 lại nhiều vàng bạc cho quốc gia.[19] Học thuyết này có những nhược điểm nhất định vì nếu muốn ngành dệt may Việt Nam phát triển bền vững thì không những phải tăng số lượng hàng hóa xuất khẩu mà còn chú trọng đến giá trị của hàng dệt may. Do đó, nếu vận dụng sáng tạo trong điều kiện hiện nay thì học thuyết này vẫn mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và ngành dệt may Việt Nam nói chung.2 Học thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo David Riacrdo (1772 – 1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh. Theo Ông nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia đều có lợi.
Tuy nhiên, lợi thế so sánh ở đây là dựa vào trình độ phát triển các yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia. Lợi thế so sánh thay đổi tùy thuộc vào thời gian và trình độ phát triển của mỗi quốc gia hay địa phương.[11] Vận dụng học thuyết này của Ông, để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thì chúng ta phải tận dụng lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sản xuất hàng dệt may xuất khẩu.3 Lý thuyết thương mại hóa dựa trên các “sản phẩm được khác biệt” Thông thường, ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương nhà sản xuất chỉ tập trung làm những sản phẩm phục vụ cho thị hiếu đa số. Điều này sẽ tạo ra khoảng trống cho thị hiếu của thiểu số và thị hiếu này sẽ được thỏa mãn một cách hữu hiệu thông qua con đường nhập khẩu, vì sản phẩm nhập khẩu sẽ có “sự khác biệt” so với sản phẩm trong nước. Hơn thế nữa, sự khác biệt của sản phẩm và lợi thế quy mô lại có liên hệ mật thiết với nhau.
Cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế buộc mỗi hãng sản xuất ở các nước chỉ tập trung sản xuất một số loại hàng hóa với một số kiểu dáng nhất định để tận dụng lợi thế quy mô và chi phí sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm thấp nhất.[11] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Vận dụng học thuyết này tác giả rút ra nhận xét: để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may thì các doanh nghiệp xuất khẩu phải làm theo đúng quy luật kinh doanh, đó là “bán cái khách hàng cần”. Vấn đề tồn tại của các doanh nghiệp hiện nay là các sản phẩm dệt may của Việt Nam chỉ sản xuất đại trà, theo mẫu mã của khách hàng mà chưa có khẳng định được thương hiệu cũng như những sản phẩm đặc trưng của mình trên thị trường thế giới nói chung và Mỹ nói riêng.4 Lý thuyết về thương hiệu Thương hiệu là tên, dấu hiệu nhận biết đặc trưng nhằm nhận diện hàng hóa hay dịch vụ của người bán, phân biệt chúng với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.[2] Thương hiệu được coi là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Qua đó, khách hàng có thể cảm nhận, đánh giá và phân biệt giữa sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Đối với người tiêu dùng, thương hiệu được coi là một sự đảm bảo về chất lượng từ phía nhà sản xuất và được định hình qua một quá trình trải nghiệm và đúc kết khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu đó.
Thương hiệu được coi như sự xác nhận của doanh nghiệp đối với khách hàng về nguồn gốc và giá trị của sản phẩm, dịch vụ cung cấp. Và do đó, thương hiệu giúp khách hàng giảm thiểu những rủi ro có thể phải gánh chịu khi mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp như những sai hỏng về tính năng, những nguy hại đối với sức khoẻ, sự lừa gạt về mặt giá trị, những rủi do về mặt xã hội và những phí tổn về mặt thời gian hao phí trong trường hợp sảm phẩm không đảm bảo. Đối với doanh nghiệp, một thương hiệu mạnh là công cụ marketing hữu hiệu, đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế: giúp khách hàng nhận thức tốt hơn, đầy đủ hơn về sản phẩm dịch vụ, góp phần duy trì và giành được niềm tin của khách hàng, giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận hấp dẫn hơn, giảm thiểu ảnh hưởng của các đối thủ cạnh tranh, giảm thiểu tác động xấu trong điều kiện khủng hoảng thị trường và là sự đảm bảo tốt có lợi thế trong đàm phán, hợp tác kinh doanh. Những thương hiệu mạnh còn là cơ sở để phát triển các cơ hội quảng bá khác cũng như có giá trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thực buộc người sử dụng phải mua bản quyền và được bảo vệ về mặt pháp lí tránh khỏi mọi sự xâm hại.
Lý thuyết về thương hiệu có giá trị cao trong việc vận dụng vào thực tế phát triển ngoại thương đối với những quốc gia có thế mạnh trong sản xuất hàng dệt may nhưng còn yếu trong công tác marketing, tiếp thị sản phẩm và xây dung thương hiệu.2 Tổng quan về thị trường dệt may Mỹ 1.1 Khái quát chung về nước Mỹ và thị trường Mỹ 1.1 Vài nét về nước Mỹ và nền kinh tế Mỹ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thường gọi là Mỹ hay nước Mỹ là một quốc gia đa văn hóa, đa chủng tộc với diện tích khoảng 9,6 triệu km2, lớn thứ tư trên thế giới sau Nga, Canada và Trung Quốc và dân số tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2012 là 312,8 triệu người chiếm khoảng 4,47% dân số thế giới. Trong đó người da trắng chiếm 80% dân số, còn lại là da màu. Mặc dù đang trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế nhưng Mỹ vẫn là một trong những nước có nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Năm 2011, GDP của Mỹ đạt 15.094 tỷ USD, chiếm 21,57% GDP của thế giới, GDP bình quân đã đạt 49.000 USD/người, trong đó có tới 40% dân có thu nhập trên 50.000 USD/năm, sức mua cao.
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế hỗn hợp, nơi mà các công ty, các tập đoàn lớn và các công ty tư nhân là những thành phần chính của nền kinh tế vi mô, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế của Mỹ. Sức tiêu dùng của người dân Mỹ được xem là lớn nhất thế giới, cao hơn hẳn Nhật Bản và EU. Mỹ là thị trường tiêu thụ nhiều loại hàng hóa, đa dạng về chủng loại và chất lượng. Mỹ là nền kinh tế lớn của thế giới với nhiều ngành nghề đa dạng với tính cạnh tranh cao, bao gồm nhiều lĩnh vực từ khu vực có giá trị gia tăng cao cho đến trung bình, là nền kinh tế tự do nhất thế giới.
Mỹ giữ vai trò chi phối gần như tuyệt đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong các tổ chức tài chính, kinh tế thế giới như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Qũy Tiền Tệ Thế Giới (IMF), Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Về hoạt động xuất khẩu: Mỹ là nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2011 của Mỹ là 2.103,367 tỷ USD trong đó xuất khẩu hàng hóa là 1.497,406 tỷ USD và dịch vụ là 605. Điều này cho thấy thế mạnh của Mỹ trong lĩnh vực dịch vụ và công nghệ cao.
Mỹ tập trung xuất khẩu những mặt hàng tạo ra giá trị gia tăng cao, cần nhiều công nghệ tinh vi, phức tạp. Về hoạt động nhập khẩu: Mỹ cũng là nước đứng đầu thế giới với tổng mức nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ là 2. Trong đó nhập khẩu hàng hóa là 2.235,819 tỷ USD, dịch vụ là 427. Như vậy trong lĩnh vực kinh tế Mỹ là một nước nhập siêu hàng hóa hữu hình nhưng lại là một nước xuất siêu trong lĩnh vực dịch vụ.
Mỹ nhập khẩu những hàng hóa có giá trị kinh tế thấp sử dụng nhiều lao động từ bên ngoài nhằm hạ giá thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của người thu nhập thấp và tầng lớp trung lưu. Từ đó làm giảm lạm phát tăng sức mua cho người dân.