Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Chương 2: Nhận định khả năng ứng dụng quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 3: Giải pháp xây dựng quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về quyền chọn cổ phiếu 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền chọn cổ phiếu Những giao dịch đầu tiên về quyền chọn đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu. Vào đầu những năm 1900, một nhóm công ty đã thành lập “Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn”. Mục đích hoạt động của hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau. Các nhà kinh doanh không gặp nhau trên thị trường, NĐT muốn mua quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc từ những công ty thành viên khác, nếu không có người bán, công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp.
Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập chung (Over – the – counter market). Thị trường quyền chọn của Hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn chịu áp lực của hai yếu tố: - Không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. - Không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng, nếu người bán không thực hiện hợp đồng thì người mua phải tốn chi phí kiện tụng. Vào tháng 4 năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thị trường quyền chọn.
Sở giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) – Sở giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một Sở giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu. Sở giao dịch này được đặt tên là Chicago Board of Option Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/4/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 6/1977. Vào thời kỳ đó, chủ yếu trao đổi các cổ phiếu đơn lẻ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn và đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường.
Nói cách khác, một NĐT đã mua hoặc bán quyền chọn trước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu. Điểm mới và quan trọng nhất đó là CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, không giống như trên thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán. Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn đối với NĐT.
Sau đó, SGDCK Mỹ (The American Stock Exchange - AMEX) và SGDCK Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975, SGDCK Pacific (PSE) thực hiện giao dịch vào năm 1976. Trong thập niên 80 của thế kỷ 19, thị trường quyền chọn ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng giao sau, cũng chính là hình thức giao dịch quyền chọn được dùng phổ biến một thời lúc bấy giờ, đã phát triển ở Mỹ. PHLX là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên. CBOE trao đổi chỉ số chứng khoán S&P 100 và S&P 500, AMEX giao dịch quyền chọn về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính và SGDCK New York giao dịch chỉ số NYSE.
Ngày nay, thị trường quyền chọn đã phát triển khắp nơi trên thế giới. Các loại quyền chọn được trao đổi phổ biến nhất hiện nay trên thế giới là quyền chọn về chứng khoán, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ.2 Khái niệm và đặc điểm quyền chọn cổ phiếu 1.1 Khái niệm quyền chọn cổ phiếu Quyền chọn cổ phiếu là một thỏa thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó người mua quyền không nhất thiết phải thực hiện quyền đó, để mua hoặc bán vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Người mua quyền phải trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn và người bán quyền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 có nghĩa vụ phải thực hiện theo các điều kiện đã thỏa thuận trước đó dù cho giá cả thị trường diễn biến ra sao.2 Đặc điểm quyền chọn cổ phiếu - Tính phái sinh: QCCP là một công cụ tài chính phái sinh, bởi vì nó được hình thành trên cơ sở một loại tài sản khác như các loại cổ phiếu.Do đó, các loại tài sản này được gọi là tài sản cơ sở. - Tính lựa chọn: QCCP là công cụ tài chính phái sinh cung cấp quyền cho người nắm giữ quyền chọn chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hay bán.
Nội dung trong các HĐQC là sự thỏa thuận về quyền chọn trong tương lai giữa các bên, trên cơ sở đó hình thành mức phí mua quyền. - Tính kỳ hạn: QCCP có ngày ký kết và ngày hết hiệu lực, khoảng thời gian từ ngày ký kết đến hết ngày hết hiệu lực là thời gian hiệu lực của quyền chọn. - Tính thanh khoản: Các HĐQC có thể được giao dịch, mua bán cả trên thị trường sơ cấp cũng như thị trường thứ cấp. Do đó, đã tạo cho sản phẩm này tính thanh khoản tương đối cao.3 Phân loại quyền chọn cổ phiếu 1.1 Phân loại theo quyền của ngƣời mua - Quyền chọn mua cổ phiếu: là HĐQC được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền mua (hoặc không mua) một loại cổ phiếu theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Để có được quyền chọn, người mua quyền chọn mua phải trả cho người bán một khoản phí. Còn bên bán phải có nghĩa vụ bán cổ phiếu khi bên mua thực hiện quyền. Trường hợp người bán quyền chọn mua bán quyền chọn trong khi đang sỡ hữu cổ phiếu thì đó là quyền chọn có bảo vệ (covered option), ngược lại người bán quyền chọn mua không sỡ hữu cổ phiếu thì đó là quyền chọn không có bảo vệ (uncovered option). - Quyền chọn bán cổ phiếu: là HĐQC được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền bán (hoặc không bán) một cổ phiếu theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Để có quyền chọn bán, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 người mua quyền chọn bán phải trả cho người bán quyền một khoản phí. Còn bên bán phải có nghĩa vụ mua cổ phiếu khi bên mua thực hiện quyền.2 Phân loại theo thời điểm thực hiện quyền - Quyền chọn kiểu Mỹ (American Style Option): là quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền chọn đưa ra yêu cầu thực hiện vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết cho đến khi đáo hạn hợp đồng, kể cả vào ngày đáo hạn. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận vào ngày đáo hạn. - Quyền chọn kiểu Châu Âu (European Style Option): là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện vào ngày đáo hạn.
Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận vào ngày đáo hạn.3 Phân loại theo tài sản cơ sở Theo cách phân loại này thì có vô số loại HĐQC, vì trên lý thuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọn dựa trên nó. Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau: - Đối với hàng hóa: gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép. - Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông… - Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau, hợp đồng hoán đổi, chỉ số chứng khoán… + Quyền chọn chỉ số chứng khoán: Các chỉ số chứng khoán thường gặp như chỉ số S&P 100; S&P 500; chỉ số Nasdaq trên thị trường NYSE; chỉ số Nikkei 225 trên TTCK Tokyo. + Quyền chọn tiền tệ: Vì nhiều công ty và NĐT nhạy cảm với rủi ro tỷ giá nên quyền chọn tiền tệ cũng như các CCPS khác được sử dụng rộng rãi.
Quyền chọn tiền tệ là một HĐQC với tài sản cơ sở là các loại tiền tệ, trao cho người nắm giữ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 quyền chọn có quyền mua hay bán một lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá xác định trước trong một khoảng thời gian đáo hạn ở tương lai. + Quyền chọn lãi suất: quyền chọn lãi suất là dạng quyền chọn đặc biệt của quyền chọn về hợp đồng giao sau. Tài sản cơ sở là các hợp đồng giao sau về lãi suất. Khi quyền chọn lãi suất được thực hiện, cùng với thu nhập bằng tiền mặt, người nắm giữ quyền chọn sẽ có vị thế dài hạn trên hợp đồng giao sau cơ sở, còn người phát hành quyền chọn sẽ có vị thế ngắn hạn tương ứng.
Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… 1.4 Các trạng thái quyền chọn cổ phiếu Trong thời hạn hợp đồng hiệu lực, người mua thực hiện hay không thực hiện hợp đồng còn phụ thuộc vào sự biến động của giá cả hiện hành trên thị trường vào thời điểm đó so với mức giá thực hiện (strike/exercise price) đã quy định. Cụ thể, xét từ vị thế người mua hợp đồng quyền chọn có ba trạng thái: - Được giá quyền chọn (In the money – ITM): là trạng thái khi người nắm giữ quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện quyền chọn mà có lãi. Khi đó: giá thị trường > giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn mua) và giá thị trường < giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn bán). Quyền chọn ở trạng thái ITM gọi là quyền chọn ở vùng hái ra tiền.