CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN Thông qua chương này, tác giả muốn cung cấp đến người đọc một bức tranh tổng quan về quá trình nghiên cứu trước đây trên thế giới cũng như trong nước về các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn. Từ đó tiến hành xác định khe hổng nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu của mình và bên cạnh đó, công tác tổng hợp các nghiên cứu trước đó cũng một phần nhằm minh chứng cho tính cấp thiết của luận văn.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Từ các khái niệm của hiệp hội IFAC năm 1998 đến sự mở rộng vai trò của KTQT trong việc quản lý hiệu suất doanh nghiệp (EPM-Enterprise performance management) đến xu hướng nghiên cứu về kế toán quản trị. Và việc đi đến xu hướng nghiên cứu chung về việc xây dựng KTQT trong các bệnh viện đã giúp tác giả có được cái nhìn tổng quát về kế toán quản trị tại bệnh viện. Các nghiên cứu liên quan đến KTQT nói chung cũng như việc xây dựng KTQT trong các doanh nghiệp và cụ thể là trong một số bệnh viện có thể tóm tắt ở một số mảng như sau: Thứ nhất, các nghiên cứu tổng thể liên quan về sự thay đổi và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong việc xây dựng KTQT qua các giai đoạn phát triển của KTQT.
Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC) vào năm 1998 đã tóm lược tiến trình phát triển của KTQT qua bốn giai đoạn. Theo đó giai đoạn một (trước những năm 1950) với trọng tâm xác định chi phí và kiểm soát tài chính. Trong giai đoạn này, KTQT chủ yếu liên quan đến các vấn đề nội bộ, đặc biệt là năng lực sản xuất. Và trong nửa đầu thế 6 kỷ 20, việc vận dụng KTQT thịnh hành là sử dụng dự toán và kế toán chi phí.
Tuy nhiên việc phổ biến về thông tin chi phí có khuynh hướng bị xem nhẹ, và việc sử dụng thông tin chi phí để ra quyết định chỉ được khai thác một cách kém cỏi (Aston & ctg. Trọng tâm của KTQT trong giai đoạn hai (từ những năm 1950 – 1960) là cung cấp thông tin để phục vụ cho mục đích hoạch định và kiểm soát. IFAC (1998) đã mô tả KTQT trong giai đoạn này là “hoạt động quản trị nhưng trong vai trò của nhân viên”. Thông qua việc sử dụng các công cụ kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm, các nhân viên sẽ hỗ trợ cấp trên trực tiếp của mình.
Quản trị kiểm soát giai đoạn này hướng đến sản xuất và quản lý nội bộ hơn là hướng về chiến lược và các vấn đề về môi trường. Giai đoạn này có khuynh hướng là chỉ khi có sự sai lệch giữa kết quả thực tế với kế hoạch kinh doanh đã được lập thì KTQT, với vai trò là một bộ phận của hệ thống quản trị kiểm soát, mới xác định vấn đề và đưa ra hành động ứng phó (Aston & ctg. Giai đoạn ba (từ những năm 1970 – 1980) trọng tâm KTQT lại thay đổi sang “giảm sự lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực cho quá trình kinh doanh”. Sự thay đổi này được lý giải là do một phần kết quả từ cuộc suy thoái thế giới những năm của thập kỷ 70 và kéo theo sau đó là cú sốc giảm giá dầu và sự gia tăng cạnh tranh toàn cầu trong những năm đầu thập kỷ 80.
Sự phát triển nhanh chóng về mặt công nghệ đã tác động nhiều mặt của khu vực công nghiệp, cũng như kéo theo sự phát triển về máy tính đã làm thay đổi về bản chất và khối lượng thông tin mà các nhà quản trị có thể truy cập. Thách thức đặt ra đối với các kế toán quản trị viên – với vai trò là người cung cấp hàng đầu các thông tin này – trong giai đoạn này là thông qua các quy trình phân tích và công cụ kỹ thuật quản trị chi phí, làm cách nào đó để đảm bảo việc các thông tin thích hợp luôn có sẵn để hỗ trợ các nhà quản trị cũng như nhân viên ở mọi cấp độ. Giai đoạn bốn (từ những năm 1980 trở về sau) trọng tâm KTQT lại thay đổi qua việc sản sinh hay tạo ra các giá trị bằng việc sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực. Điều này đạt được thông qua việc “… sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm nghiên cứu sự hướng tới các giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và sự cải tiến của DN nói chung” (IFAC, 1998).
7 Tuy nhiên cho đến nay thì theo Gary Cokin (2013) chúng ta có thể nói đến một giai đoạn mới của KTQT với xu hướng phát triển mạnh trong giai đoạn kể từ 2015 là kỷ nguyên phân tích dự báo (predictive analytics era). Theo đó dựa trên dữ liệu quá khứ, DN có thể đánh giá và dự báo tầm nhìn chiến lược cũng như các hành động cụ thể, cùng với các kế hoạch chi phí thì DN có thể dễ dàng chuyển đổi các mục tiêu, hành động cụ thể thành những con số để có thể đánh giá hiệu quả và hiệu lực của các quyết định. Và trong kỷ nguyên phân tích dự báo này, Gary Cokin (2013) tổng hợp bảy xu hướng chính của KTQT bao gồm: Mở rộng từ việc phân tích sản phẩm sang phân tích kênh phân phối và tính khả lợi của khách hàng; Sự mở rộng vai trò của KTQT trong việc quản lý hiệu suất doanh nghiệp (EPM- Enterprise performance management); Sự nhấn mạnh về kế toán dự báo; Phân tích kinh doanh được bao hàm trong các phương thức quản lý hiệu suất doanh nghiệp; Cùng tồn tại và hoàn thiện các phương pháp KTQT khác nhau trong DN; Quản trị công nghệ thông tin và chia sẻ dịch vụ; Nhu cầu về kỹ năng cao hơn và năng lực tốt hơn về quản trị chi phí theo hành vi ứng xử. Slagmulder (1997) đã tiến hành việc nghiên cứu lý thuyết nền tảng nhằm mục đích tìm hiểu cách hệ thống kiểm soát quản lý hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư chiến lược và phù hợp với chiến lược của DN.
Tác giả đã phát triển một lý thuyết nền về sự thích nghi năng động, phản ứng kịp thời với các thay đổi bên ngoài trong các điều kiện môi trường thay đổi, nhằm thích nghi với chiến lược DN. Trong điều kiện và môi trường toàn cầu hoá, ngày càng gia tăng sự cạnh tranh khốc liệt thì chính kế toán chi phí và KTQT được hồi sinh, và trở nên hữu dụng cho việc quản trị. 8 Rất nhiều DN đã trải qua những sự thay đổi quan trọng trong môi trường kinh doanh như sự tiến bộ về kỹ thuật công nghệ, sự gia tăng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh, những chiến lược quản trị mới hay là xu hướng tập trung vào các dịch vụ chăm sóc khách hàng … Và có rất nhiều nghiên cứu có liên quan về sự thay đổi của KTQT cũng chỉ ra rằng sự thay đổi của môi trường hoạt động sẽ có tác động lên việc lựa chọn những hệ thống KTQT hay những công cụ kỹ thuật KTQT được đánh giá hiệu quả nhất, để từ đó dẫn đến việc DN phải cân nhắc lại các chiến lược và tiến hành tái cấu trúc nhằm đạt được những thành quả cao hơn (Burns và Vaivio, 2001; Choe, 2004; Gomes,Yasin & Lisboa, 2007). Thứ hai, xu hướng các nghiên cứu liên quan về việc xây dựng KTQT.
Xuất phát từ niềm tin rằng KTQT được nghiên cứu tốt nhất ở những công ty hàng đầu, và những ví dụ về sự vận dụng thành công KTQT chỉ có thể tìm thấy ở những công ty hàng đầu của phương Tây hoặc các công ty Nhật Bản (Mitchell & ctg., 1998); nên hầu hết các DN lớn luôn được ưu tiên trong việc vận dụng, cải tiến và phát triển KTQT ở các DN này (Mitchell &Reid, 2000). Tuy nhiên do tác động của quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, giai đoạn sau này ngày càng gia tăng nhiều các nghiên cứu về việc xây dựng KTQT vào các DN. Thứ ba, xu hướng nghiên cứu chung về việc xây dựng KTQT trong các bệnh viện. Theo Nathan và Justin (2016) mặc dù các học giả quản lý đã xác định một số phương pháp kế toán chi phí cung cấp cho các tổ chức với ước tính chính xác về chi phí họ phải chịu trong sản xuất đầu ra.
Tuy nhiên, ít ai biết về phương pháp nào được các bệnh viện sử dụng phổ biến nhất. Bằng nghiên cứu của mình, các tác giả đưa ra khuyến nghị các bệnh viện chưa nên áp dụng hệ thống kế toán chi phí tinh vi vì đặc điểm của ngành công nghiệp bệnh viện làm cho chi phí làm việc rất cao và lợi ích của thông tin chi phí cấp dịch vụ tương đối thấp. Tuy nhiên, những thay đổi trong thiết kế lợi ích bảo hiểm đang tạo ra động lực cho bệnh nhân để so sánh giá bệnh viện. Nếu những thay đổi này tiếp diễn, việc bệnh viện có thể tăng doanh thu 9 và bệnh nhân ngày càng bị ảnh hưởng bởi quyết định của từng bệnh nhân mua dịch vụ giá rẻ và do đó, các nhà cung cấp có thể thấy áp lực ngày càng tăng khi đặt giá ở mức phản ánh chi phí của chăm sóc.
Nếu những thay đổi này thành hiện thực, thông tin kế toán chi phí sẽ trở nên quan trọng hơn trong công tác quản lý bệnh viện so với trong quá khứ. Một đặc điểm độc đáo của ngành công nghiệp bệnh viện ở một số quốc gia không chỉ là sự cùng tồn tại của các hình thức quyền sở hữu khác nhau (chẳng hạn như phi lợi nhuận, vì lợi nhuận hay bệnh viện công) mà còn có sự đa dạng trong một hình thức cụ thể (chẳng hạn như các bệnh viện phi lợi nhuận thuốc về tôn giáo, thế tục hay các trường đại học). Tổ chức, mục tiêu và các hạn chế hoạt động mà các loại bệnh viện khác nhau phải đối mặt cũng khác nhau. Điều này dẫn đến là một lý thuyết thống nhất không thể cung cấp đủ hiểu biết sâu sắc để hiểu hành vi của bệnh viện, đặc biệt là đối với thiết kế và sản phẩm đầu ra của hệ thống KTQT và kiểm soát (MACS).
Bên cạnh đó ngành công nghiệp bệnh viện đã chứng kiến một loạt các thay đổi quy định, trong đó chủ yếu nhằm mục đích giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và tăng quyền truy cập. Những quy định thay đổi ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của MACS. Cuối cùng, các bệnh viện phải đối mặt với những hạn chế về thể chế, có ý nghĩa đối với thiết kế và sử dụng MACS (Lelise & ctg, 2017).