Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm lao động, nguồn lao động Nhiều nhà tư tưởng cho rằng: Lao động là một hoạt động có mục đích để sáng tạo ra những giá trị sử dụng và lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động.
Theo William Petty- nhà kinh tế học người Anh (trích theo Vũ Thị Thu, 2014) [9] thì: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải”. Theo một số tác giả: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thoả mãn nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người”. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích ý thức của con người thông qua công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của mình và xã hội. Nguồn lao động là lực lượng cơ bản của hoạt động sản xuất xã hội, bao gồm toàn bộ những người có khả năng tham gia lao động.
Nghiên cứu nguồn lao động có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động trong nông thôn bao gồm số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn lao động: Bộ Luật lao động năm 1994 có ghi: Số lượng lao động là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi quy định (Nam từ 15 đến 60 tuổi, Nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng tham gia lao động. Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, số lượng lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào độ tuổi mà chủ yếu dựa vào khả năng lao động.
Những người trên và dưới tuổi quy định nhưng có khả năng lao động thì vẫn được coi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 như một bộ phận của người lao động. Việc tăng số lượng người lao động trực tiếp sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tạo ra sản phẩm. Số lượng những người lao động phải gắn liền với số ngày công lao động, nhất là số ngày và số giờ lao động thực tế, số giờ làm việc hữu ích của người lao động. Chất lượng nguồn lao động biểu hiện ở trình độ văn hóa, trình độ lành nghề, trình độ kinh tế - tổ chức, mức độ sức khỏe.
Số lượng và chất lượng nguồn lao động luôn biến đổi. Yếu tố làm thay đổi nguồn lao động gồm: Sự tăng giảm tự nhiên của dân số, hàng năm có một số người đến tuổi lao động tham gia lao động, một số khác hết tuổi lao động rút khỏi lao động nông nghiệp; Do lao động nông nghiệp chuyển sang các ngành kinh tế quốc dân khác, chủ yếu là sang công nghiệp. Xu hướng chung của sự thay đổi về số lượng nguồn lao động trong nông nghiệp là: giảm liên tục cả về số tuyệt đối cũng như số tương đối, đồng thời không ngừng tăng năng suất lao động với tốc độ cao và ổn định do việc chuyển lao động nông nghiệp (có năng suất thấp) sang lao động công nghiệp (có năng suất cao) và các ngành kinh tế quốc dân khác, đồng thời với việc chuyển đổi đó là không ngừng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho lao động nông nghiệp. Khái niệm lao động nông thôn, nguồn lao động nông thôn Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn.
Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn,. Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15- 60 tuổi, nữ từ 15- 55 tuổi) và những người trên dưới độ tuổi nói trên có thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc.
Dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm haowcj không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Tùy theo tình trạng việc làm, dân sô hoạt động kinh tế được chia thành hai loại: Người có việc làm và người thất nghiệp. Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm tòa bộ số người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm, những người này không hoạt động kinh tế vì các lý do: Hiện đang đi học; Hiện đang làm công việc nội trợ cho bản thân gia đình; Già cả ốm đau. Tàn tật không có khả năng lao động hoặc ở vào tình trạng khác.
Đặc điểm nguồn lao động nông thôn Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm 90% lao động nông thôn do đó đặc điểm của nguồn lao động nông thôn cũng tương đồng với đặc điểm của lao động trong sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm thứ nhất của lao động nông thôn là tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng xã (đất, khí hậu,. Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động không đồng đều.
Chính tính chất này đã làm cho việc sử dụng nguồn lao động nông thôn trở nên phức tạp. Đặc điểm thứ hai là nguồn lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có tính thích ứng lớn. Do đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao động có ý nghĩa kinh tế lớn nhưng rất phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm thứ ba là lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp.
Sản xuất nông nghiệp có nhiều công việc gồm nhiều khâu với tính chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khác nhau, hơn nữa mức độ áp dụng máy móc chưa cao nên sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thể đảm nhiệm được nhiều công việc khác nhau nên lao động nông nghiệp ít chuyên sâu hơn lao động công nghiệp và các ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu bằng kinh nghiệm, tổ chức lao động cũng rất giản đơn, với công cụ thủ công lạc hậu. Lực lượng lao động lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố không đều, vì vậy hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới (Hoàng Tú Anh, 2012) [1].
Nghiên cứu đầy đủ tính chất và những đặc điểm nói trên của lao động nông nghiệp là có thể tìm ra những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động trong nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung. Vai trò của nguồn lao động nông thôn Lao động nói chung và lao động trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Lao động nông nghiệp, nông thôn góp phần tiến hành thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nâng cao thế và lực của nước ta qua việc khai thác tối đa các nguồn lực đất đai, tài nguyên, xã trời, xã biển,. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển với tỷ lệ nông nghiệp, nông thôn khá lớn như Việt Nam.
Điều này được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau: 1. Lao động nông nghiệp, nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân Để nền kinh tế phát triển mạnh đòi hỏi phải có một lực lượng lao động phù hợp cả về số lượng và chất lượng. Sự phù hợp này được thể hiện khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Đối với lao động nông nghiệp, nông thôn ở giai đoạn đầu khi đất nước bắt đầu công nghiệp hoá, năng suất lao động nông nghiệp, nông thôn tăng lên, một số lao động dư thừa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được giải phóng và được các ngành khác thu hút, nhưng do tốc độ tăng tự nhiên còn cao nên tỷ trọng lao động nông nghiệp, nông thôn mới giảm tương đối, số tuyệt đối còn tăng lên.
Còn khi bước vào giai đoạn sau, khi nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động tăng nhanh. Số lao động dôi ra do nông nghiệp, nông thôn giải phóng đã được các ngành khác thu hút hết. Vì thế, giai đoạn này số lượng lao động nông nghiệp, nông thôn giảm cả về tương đối và tuyệt đối. Như vậy, trong mỗi giai đoạn của quá trình phát triển, lao động nông nghiệp, nông thôn luôn đóng một vai trò to lớn trong việc phát triển các ngành: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Lao động nông nghiệp, nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực, thực phẩm Bên cạnh quá trình gia tăng dân số hàng năm, quá trình đô thị hoá đất nước và thu nhập của người dân tăng lên đã làm nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Để đáp ứng nhu cầu đó thì hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển phải dựa vào ngành nông nghiệp và lực lượng lao động trong nông nghiệp, nông thôn đóng một vai trò to lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, nhờ chất lượng nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn tăng lên về mọi mặt nên sản lượng lương thực, thực phẩm tăng nhanh không chỉ để nuôi sống dân số trong nước mà còn đáp ứng nhu cầu cho xuất khẩu. Lao động nông nghiệp, nông thôn tham gia sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản Việc phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các trình độ công nghệ, quy mô khác nhau là một nội dung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.