CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm và các hình thức hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế 1.1 Khái niệm Các biện pháp thuế quan và các biện pháp phi thuế quan là hai công cụ chủ yếu điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Hiện tại, trên thế giới chưa thống nhất được khái niệm về các biện pháp phi thuế quan. Tổ chức Thương mại thế giới WTO định nghĩa: "Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước" (Bùi Xuân Lưu - Nguyễn Hữu Khải, 2009). Định nghĩa này mang tính chất khái quát đề cập đến tác động chung nhất của các biện pháp phi thuế quan.
Theo Nhóm chuyên gia Hỗ trợ liên ngành của Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD, 2010) định nghĩa thì "Các biện pháp phi thuế quan là các biện pháp chính sách không phải là thuế quan thông thường và có khả năng tạo ra các tác động về mặt kinh tế đối với thương mại quốc tế, làm thay đổi khối lượng giao dịch thương mại hoặc làm thay đổi giá cả hoặc cả hai" Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế còn xuất hiện thuật ngữ quen thuộc "Rào cản phi thuế quan". Vậy, rào cản phi thuế quan khác gì với biện pháp phi thuế quan? Rào cản phi thuế quan là tập hợp gồm một số các biện pháp phi thuế quan. Chỉ những biện pháp phi thuế quan nào làm cản trở thương mại quốc tế mới được coi là rào cản. Chính vì sự phát triển phức tạp của thị trường thương mại quốc tế mà sự phát triển của các biện pháp phi thuế quan cũng đa dạng theo, mỗi biện pháp phi thuế quan là hiện diện của nhiều mục đích chìm nổi khác nhau nên việc xác định liệu một biện pháp phi thuế quan có phải là rào cản trở nên rất phức tạp.
Ranh giới giữa hai vấn đề luôn không rõ ràng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Như vậy, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế chính là tập hợp một số các biện pháp phi thuế quan gây ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu của một quốc gia, từ đó tác động tích cực hoặc tiêu cực tới toàn bộ hoạt động thương mại quốc tế. Nói cụ thể hơn, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế là rào cản phi thuế quan. Khái niệm về rào cản phi thuế quan cũng chưa được thống nhất.
Tổ chức Thương mại thế giới WTO đưa ra khái niệm về rào cản phi thuế dựa trên khái niệm về các biện pháp phi thuế quan: "Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng" (Bùi Xuân Lưu -Nguyễn Hữu Khải, 2009). Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (1997) định nghĩa: " Rào cản phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu". Cách hiểu này nhấn mạnh vào biên giới trong ngoài của thương mại quốc tế. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho rằng: "Rào cản phi thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa".
Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) thì định nghĩa: "ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng tới mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan." (Đinh Văn Thành 2005, trích dẫn trong Biện pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, Đào Thị Thu Giang 2009, p.18) Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu rào cản phi thuế quan là các biện pháp không dùng thuế quan nhằm cản trở sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, và sâu xa hơn là để bảo vệ nền sản xuất nội địa, bảo vệ thị trường trong nước. Rào cản phi thuế quan bao gồm hai bộ phận cơ bản: Các rào cản pháp lý và các rào cản kỹ thuật. Rào cản pháp lý chính là chính sách, quy định của Chính phủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 liên quan tới hàng nhập khẩu như hạn ngạch, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp,. Rào cản kỹ thuật là các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, có thể áp dụng với hàng nhập khẩu cũng như hàng sản xuất trong nước như quy trình sản xuất, vận chuyển, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, .1 Các biện pháp hạn chế định lượng (Quantitative Restrictions) Theo WTO, các biện pháp hạn chế định lượng được hiểu là các quy định do một nước đưa ra nhằm hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu vào/ xuất khẩu từ nước đó.
Tùy vào từng mục tiêu cụ thể của từng quốc gia, biện pháp hạn chế định lượng thường được thực hiện thông qua các hình thức như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép. * Cấm nhập khẩu (Prohibitions) Cấm nhập khẩu là biện pháp ngăn cấm hoàn toàn một hay một số hàng hóa thâm nhập vào thị trường nội địa của một nước nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng, đạo đức xã hội, an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng hay bảo vệ môi trường tự nhiên. Do đó, hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu thường là vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, chất thải, phế liệu, hóa chất độc hại, ma túy,. Theo điều XI, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT/1994), WTO quy định chung đối với các nước thành viên không được áp dụng biện pháp hạn chế số lượng dưới bất kỳ hình thức nào nhằm hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
Theo đó, biện pháp cấm nhập khẩu là bị cấm hoàn toàn trong WTO. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khẩn cấp thì các nước thành viên vẫn được áp dụng. Theo điều XXI (GATT/1994) thì các trường hợp được sử dụng biện pháp cấm nhập khẩu là: Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội Cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người, động thực vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Liên quan đến nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm Bên cạnh đó, điều XX (GATT/1994) cũng chỉ ra các trường hợp được sử dụng biện pháp cấm nhập khẩu sau: Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự bùng nổ về nhập khẩu, phương hại đến sản xuất trong nước Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế * Hạn ngạch nhập khẩu (Quotas) Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng tối đa cho phép một mặt hàng hay nhóm hàng được nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định, thương là một năm thông qua hình thức cấp phép. Hạn ngạch nhập khẩu được sử dụng nhằm 3 mục đích chính: Bảo hộ sản xuất trong nước; sử dụng có hiệu quả quỹ ngoại tệ; thực hiện cam kết của Chính phủ với nước ngoài.
Tuy nhiên, hạn ngạch cũng có nhiều tác động dẫn tới hiện tượng độc quyền của một số doanh nghiệp được cấp phép, từ đó gây cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Giống như biện pháp cấm nhập khẩu, WTO không cho phép các nước thành viên sử dụng biện pháp hạn ngạch trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, điều XI và XII (GATT/1994) đã chỉ ra các trường hợp ngoại lệ được áp dụng hạn ngạch: Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt đi sự bùng nổ về nhập khẩu, phương hại tới sản xuất trong nước Dùng cho hàng nông sản và thủy sản Có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng nhập khẩu để đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán. Việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lượng vì mục đích này không được vượt quá mức cần thiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Để ngăn ngừa sự đe dọa sắp xảy ra hay để ngăn chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ hay trong trường hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ * Hạn ngạch thuế quan (Tariff quotas) Hạn ngạch thuế quan là kết quả Vòng đám phán Uruguay về Nông nghiệp.
Theo Hiệp định Nông nghiệp (AoA/ 1994) thì các bên tham gia không được phép áp dụng các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản. Như vậy biện pháp cấm nhập khẩu cũng như biện pháp hạn ngạch cũng không được áp dụng với hàng nông sản. Tuy nhiên, các bên tham gia có thể áp dụng hạn ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm nhập khẩu và hạn ngạch. Theo đó, thì hai mức thuế suất trong hạn ngạch và ngoài hạn ngạch cũng được thiết lập.
Nếu lượng nhập khẩu dưới một mức nhất định (gọi là hạn ngạch) thì sẽ được áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp, còn nếu lượng nhập khẩu cao hơn hạn ngạch thì phần vượt quá vẫn được nhập khẩu nhưng phải chịu mức thuế nhập khẩu cao hơn gấp nhiều lần trong hạn ngạch. Cơ chế hạn ngạch thuế quan gồm bốn yếu tố: thuế suất trong hạn ngạch (in – quota tariff rate); hạn ngạch xác định lượng nhập khẩu tối đa chịu mức thuế suất trong hạn ngạch; thuế suất ngoài hạn ngạch (over – quota tariff rate); phương thức quản lý phân bổ hạn ngạch. Theo Hiệp định AoA thì các bên tham gia phải có nghĩa vụ thông báo với WTO về các yếu tố này trong Biểu cam kết về hàng hóa, cũng như phải cam kết quản lý phân bổ hạn ngạch thuế quan theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO. * Giấy phép nhập khẩu (Import licences) Giấy phép nhập khẩu là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cho phép mặt hàng nhất định được đưa vào lãnh thổ của nước đó.
Giấy phép nhập khẩu gồm hai loại là giấy phép nhập khẩu tự động và giấy phép nhập khẩu không tự động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.