Chương 1: Tổng quan về tự do hóa tài chính - Chương 2: Thực trạng tự do hóa tài chính ở Việt Nam - Chương 3: Giải pháp thực hiện tự do hóa tài chính ở Việt Nam trong thời gian tới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH 1. Khái niệm tự do hóa tài chính Theo Johnston và Sundararajan1 thì “Tự do hóa tài chính có thể được định nghĩa là một tập hợp các cải cách và biện pháp chính sách được thiết kế để bãi bỏ kiểm soát và chuyển đổi hệ thống tài chính và cấu trúc của nó để đạt được hệ thống thị trường theo hướng tự do trong một khuôn khổ pháp lý thích hợp”. Với quan điểm này, TDHTC được hiểu là quá trình mà nhà nước thực hiện việc đổi mới quản lý theo hướng hạn chế can thiệp vào thị trường, hạn chế các biện pháp kiểm soát và tiến tới hình thành một thị trường tài chính tự do. Tự do của thị trường tài chính cần phải đảm bảo nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, pháp luật cần phải đảm bảo định hướng cho sự phát triển theo hướng thị trường. Như vậy, vai trò quản lý của nhà nước đối với thị trường tài chính được thực hiện thông qua công cụ pháp lý thích hợp, đảm bảo thị trường tài chính phát triển tự do và lành mạnh. Bên cạnh đó, Mc Kinnon2 thì cho rằng “Tự do hóa tài chính là việc cắt giảm những sự phân tán quá lớn của tỷ suất lợi nhuận của hoạt động đầu tư hiện tại và tương lai bằng cách kiểm soát các doanh nghiệp nội địa”. Quan điểm này của Mc Kinnon được hiểu là cần đưa giá cả của các công cụ tài chính về giá trị thực của nó, và từ đó các hoạt động kinh tế sẽ hiệu quả hơn.
Ví dụ, việc kiềm chế lãi suất tiết kiệm thấp hơn mức cân bằng sẽ hạn chế tiết kiệm và khuyến khích tiêu dùng. Và nền kinh tế rơi vào tình trạng mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư. Áp lãi suất trần cho vay cũng sẽ làm méo mó lợi tức thực sự của các dự án đầu tư. Lãi suất trần thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì những dự án trước đây không có hiệu quả khi lãi suất cao bây giờ lại có lãi.
Và những dự án có lãi khi lãi suất cao sẽ càng có lợi nhuận nhiều hơn khi áp trần lãi suất thấp. Kết quả của sự kiềm chế lãi suất sẽ làm phát sinh chênh lệch tỷ suất lợi nhuận, không khuyến khích cạnh tranh, kinh tế trì trệ. Sundararajan: thành viên bộ phận tiền tệ và ngoại hối của IMF 2 Ronald I. McKinnon: Giáo sư kinh tế học quốc tế, Đại học Stanford LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Vậy, tự do hóa tài chính là giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ và giao dịch tài chính.
Các hoạt động trên thị trường tài chính được tự do thực hiện theo tín hiệu thị trường. Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường, là chuyển vai trò điều tiết tài chính từ "bàn tay can thiệp" hay "bàn tay hữu hình" của chính phủ sang "bàn tay vô hình" của thị trường, chuyển từ quản lý bằng hành chính sang qui luật thị trường. Vì vậy tự do hóa tài chính nằm ở trung tâm vấn đề muôn thuở của nền kinh tế là giải quyết mâu thuẫn giữa vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường, đặc biệt là khi vị trí của tài chính đang ngày một quan trọng hơn không chỉ đối với từng quốc gia mà còn đối với từng khu vực và toàn cầu. Tài chính là một phạm trù rất rộng lớn và phức tạp xuyên suốt từ huy động tới phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính - tiền tệ có hạn sao cho có hiệu quả nhất đến toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Tự do hóa tài chính bao gồm các khía cạnh cơ bản sau: - Tự do hóa lãi suất: đây được coi là hạt nhân của tự do hóa tài chính trong nước, trong đó, lãi suất phải do thị trường quyết định tùy thuộc vào cung cầu về đầu tư, vào mức tiết kiệm và thu nhập trong nền kinh tế. - Tự do hóa hoạt động phân bổ tín dụng: nguồn tín dụng được phân bổ dựa trên lãi suất thị trường và mức độ tin cậy của người đi vay chứ không phải bằng các quyết định hành chính. - Tự do hóa tài khoản vốn: Tài khoản vốn trong cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm các giao dịch đầu tư vào trong nước và ra nước ngoài, vay và cho vay quốc tế ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tự do hóa cho phép một nước tự do xuất khẩu hoặc nhập khẩu vốn với nước ngoài thông qua các hình thức FDI, đầu tư gián tiếp (vốn cổ phần), vay và cho vay nợ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Tự do hóa các dịch vụ tài chính: cho phép các ngân hàng, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước được tự do tham gia cung cấp các dịch vụ tài chính trên thị trường và không phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính này. Trong quá trình thực hiện tự do hóa tài chính, các khía cạnh cơ bản trên có thể được thực hiện đồng thời cùng một lúc, cũng có thể được thực hiện theo từng bước khác nhau sao cho phù hợp với bối cảnh quốc tế và đặc diểm của từng quốc gia. Cách thức tiến hành như vậy được gọi là trình tự tự do hóa tài chính. Trình tự tự do hóa tài chính Thực tế quá trình tự do hóa tài chính trên thế giới cho thấy không có một trình tự tự do hóa tài chính chung nào cho tất cả các nước.
Các quốc gia khác nhau thực hiện tự do hóa tài chính theo các trình tự hoàn toàn khác nhau.1 cho ví dụ về trình tự tự do hóa tài chính của hai nước rất gần với Việt Nam trong khu vực là Indonesia và Malaysia, trong đó cho thấy Indonesia có xu hướng thực hiện các biện pháp tự do hóa tài chính đối nội trước khi tự do hóa tài khoản vãng lai trong khi Malaysia lại thực hiện tự do hóa tài khoản vãng lai trước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Tình hình TDHTC ở một số nƣớc Đông Nam Á trƣớc khủng hoảng 1997 INDONESIA MALAYSIA Tự do lãi suất Từ 1983 Từ 1991 (trừ khu vực kinh tế ưu tiên) Phân bổ tín Tự do hóa năm 1983, kiểm soát dụng lại năm 1995 Tỉ lệ dự trữ 3% từ năm 1996, (không tính tiền Tăng từ 5.5% ngân hàng mặt vào dự trữ) (1994) Từ 1987, doanh nghiệp 100% vốn Đầu tư trực Từ đầu 1990, doanh nghiệp 100% nước ngoài nếu xuất khẩu 80%. Cuối tiếp nước vốn (trừ một số lĩnh vực) 1980 cho phép công ty chứng khoán ngoài nước ngoài hoạt động. Đầu tư gián Người nước ngoài nắm tối đa 30% Sở hữu cổ phần nước ngoài tối đa tiếp nước cổ phần của một công ty được niêm là 49% ngoài yết Vay nợ nước Từ cuối năm 1980, vay nợ nước Thành lập trung tâm tài chính hải ngoài.
ngoài được tự do hóa ngoại năm 1990 (Nguồn: Tổng hợp từ World Bank 10/1988, Journal of Dissertation số 2/2007 và tài liệu tham khảo 15, 16) Trình tự tự do hóa tài chính mà các nước lựa chọn phụ thuộc vào đặc điểm riêng có và định hướng chiến lược của các nhà lập chính sách. Tuy nhiên, theo Mc Kinnon 3, với một nước có những đặc điểm thông thường thì trình tự tối ưu hóa các chính sách tài 3 The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy 1993 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 chính trong quá trình chuyển từ sự kiểm soát tập trung sang nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập vào thế giới cần được tiến hành theo các bước như sau: Trước khi lạm phát giá cả có khả năng giảm dần và thị trường vốn được mở ra theo hướng cho vay tự do, thì yêu cầu đầu tiên là phải đạt được sự cân đối tài chính của chính phủ trung ương. Kiểm soát tài khóa nên đi trước tự do hóa tài chính. Sự thâm hụt ngân sách quá lớn của chính phủ trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển (để có thể phát hành trái phiếu chính phủ) thường dẫn đến việc Ngân hàng trung ương phát hành nội tệ quá mức để tài trợ thâm hụt ngân sách gây ra lạm phát cho nền kinh tế.
Phân tích bước thứ hai trong quá trình tự do hóa tài chính sẽ cho thấy điều này ảnh hưởng xấu đến quá trình tự do hóa tài chính như thế nào. Bước thứ hai trong trình tự tự do hóa tài chính là việc mở cửa thị trường tiền tệ trong nước sao cho người gửi tiền nhận được lãi suất thực dương (tự do hóa lãi suất). Việc vay và cho vay không hạn chế giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình chỉ có thể diễn ra thuận lợi khi mức giá cả được ổn định và các thâm hụt tài khóa được loại trừ. Thật vậy, trong điều kiện lạm phát quá cao, người cho vay sẽ bị thiệt do lãi suất thực có xu hướng âm , điều này sẽ cản trở hành vi cho vay của người có vốn.
Song song với tự do hóa lãi suất là tự do hóa hoạt động của các ngân hàng và việc phân bổ các nguồn tín dụng. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng chỉ được giải phóng khỏi các đòi hỏi dự trữ phiền hà và các chỉ dẫn chính thức trong việc định lãi suất tiêu chuẩn đối với tiền gửi vào và tiền cho vay sau khi việc kiểm soát tài khóa chặt chẽ được bảo đảm, sao cho chính phủ không còn cần phải đánh thuế lạm phát hoặc đánh thuế vào khoản tiền tích trữ quá mức của người gửi tiền để có thu nhập. Như vậy, một lần nữa, kiểm soát tài khóa lại phát huy vai trò là một bước đệm quan trọng trong trình tự tự do hóa tài chính. Sau khi các ngân hàng đã quen với cách thức hoạt động độc lập theo cơ chế thị trường, bước tiếp theo là mở rộng sự tham gia của các trung gian tài chính mới, cho phép cả các tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động.
Tuy nhiên quy chế này cũng cần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 được nới lỏng dần dần bởi nếu như hệ thống tài chính được nới lỏng hoàn toàn và bất ngờ thì các tổ chức mới tham gia sẽ mời chào lãi suất cao hơn các lãi suất mà các tổ chức tài chính hiện có đang trả nhằm cạnh tranh giành tiền gửi.