Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ghi nhận dấu mốc lịch sử vào tháng 11 năm 2006 khi chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trước đó, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ấn tượng trên 7.0%/năm liên tục trong giai đoạn 2002-2006, đồng thời thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cam kết đạt kỷ lục 8.2 tỷ USD năm 2006 và chạm đỉnh 72 tỷ USD vào năm 2008. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của dòng vốn quốc tế cùng áp lực mở cửa thị trường dịch vụ tài chính đã đặt hệ thống ngân hàng trong nước trước nhiều thách thức nghiêm trọng. Cán cân vãng lai rơi vào trạng thái thâm hụt nặng nề lên tới -11.84% GDP vào năm 2008, trong khi cơ chế kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng hành chính bộc lộ nhiều điểm nghẽn, làm gia tăng nguy cơ rủi ro hệ thống.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu mở cửa thị trường tài chính theo các cam kết quốc tế và sự yếu kém nội tại của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự do hóa tài chính và các bài học kinh nghiệm quốc tế; phân tích toàn diện thực trạng tự do hóa lãi suất, tín dụng, các định chế trung gian, thị trường ngoại hối và chứng khoán giai đoạn 2001-2011; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kèm lộ trình 3 giai đoạn (2012-2025) nhằm thực hiện tự do hóa tài chính an toàn, hiệu quả.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam, khảo sát chuỗi dữ liệu thực nghiệm trong 10 năm (2001-2011). Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp kiểm soát thâm hụt vãng lai dưới mức 5% GDP, chuyển đổi cơ cấu tín dụng trung - dài hạn vượt ngưỡng 50% tổng dư nợ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần với thị phần huy động đạt trên 43% trong nền kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý thuyết chủ đạo của đề tài dựa trên lý thuyết kìm hãm tài chính và tự do hóa tài chính được khởi xướng bởi hai nhà kinh tế học hàng đầu Ronald I. McKinnon và Edward S. Shaw (1973). Lý thuyết chỉ rõ rằng việc áp đặt trần lãi suất danh nghĩa trong điều kiện lạm phát cao khiến lãi suất thực bị âm, làm suy giảm nguồn tiết kiệm tư nhân và khuyến khích hành vi đầu cơ tài sản phi sản xuất như vàng hay bất động sản. Do đó, bãi bỏ trần lãi suất để xác lập mức lãi suất cân bằng thị trường là động lực thúc đẩy tích lũy vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Bên cạnh đó, luận văn tiếp cận khung trình tự tự do hóa tài chính tối ưu của McKinnon (1993), yêu cầu các nền kinh tế chuyển đổi phải tuân thủ 5 bước tuần tự:

  1. Kiểm soát và cân đối tài khóa vĩ mô nhằm triệt tiêu thâm hụt ngân sách;
  2. Tự do hóa thị trường tiền tệ và lãi suất nội địa nhằm duy trì lãi suất thực dương;
  3. Tự do hóa hoạt động ngân hàng thương mại và cơ chế phân bổ hạn mức tín dụng;
  4. Nới lỏng quy chế cho phép sự tham gia của các định chế tài chính mới và ngân hàng nước ngoài;
  5. Tự do hóa tài khoản vốn sau khi nền kinh tế đã ổn định lạm phát và tỷ giá.

Nghiên cứu cũng tích hợp định nghĩa của Johnston và Sundararajan (IMF) về tự do hóa tài chính trong khuôn khổ pháp lý điều tiết, cùng mô hình phân tích khủng hoảng kép của Graciela Kaminsky và Carmen Reinhart (1995), chứng minh rằng 18 trong số 25 cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới xuất hiện trong vòng 5 năm sau khi mở cửa thị trường nếu thiếu hụt hệ thống giám sát an toàn vĩ mô. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tự do hóa lãi suất, tự do hóa phân bổ tín dụng, tự do hóa tài khoản vốn, tự do hóa dịch vụ tài chính và độ sâu tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực từ Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và các báo cáo tài chính kiểm toán của các tổ chức tín dụng. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ hệ thống định chế tài chính Việt Nam giai đoạn 2001-2011, bao gồm 5 ngân hàng thương mại quốc doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và mạng lưới 1,046 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Phương pháp chọn mẫu toàn thể (census sampling) được áp dụng nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh, loại bỏ sai số chọn mẫu khi đánh giá dịch chuyển thị phần.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian (time-series analysis) và phân tích định tính thể chế kinh tế. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù thị trường tài chính Việt Nam là nền kinh tế chuyển đổi có sự can thiệp sâu của các văn bản quy phạm pháp luật (như Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN, Quyết định 18/2008/QĐ-NHNN và Thông tư 12/2010/TT-NHNN). Do đó, sự kết hợp giữa định lượng số liệu và đánh giá khung pháp lý cho phép làm rõ bản chất các bước tiến và thoái lui trong chính sách tiền tệ. Toàn bộ quy trình phân tích và đối soát dữ liệu được thực hiện trong thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường tài chính trung gian chứng kiến sự bùng nổ về quy mô cùng bước ngoặt tái cơ cấu thị phần giữa khối ngân hàng quốc doanh và cổ phần. Tổng huy động vốn toàn quốc tăng trưởng 142%, từ 1,123.2 nghìn tỷ đồng năm 2007 lên 2,718.4 nghìn tỷ đồng vào năm 2011. Dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế mở rộng 147%, từ 1,067.7 nghìn tỷ đồng lên 2,640.4 nghìn tỷ đồng trong cùng giai đoạn. Thị phần huy động vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh sụt giảm mạnh từ 74.2% năm 2005 xuống 47.7% năm 2010 và còn 45.9% năm 2011. Ngược lại, khối ngân hàng thương mại cổ phần vươn lên chiếm lĩnh 43.2% thị phần huy động và 40.2% thị phần tín dụng vào năm 2011.

Thứ hai, cơ cấu kỳ hạn tín dụng có sự chuyển biến tích cực theo hướng tiệm cận chuẩn mực thị trường. Điển hình tại địa bàn đầu tàu kinh tế là Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong tổng dư nợ đã tăng liên tục từ mức 39.22% năm 2006 lên 50.22% vào năm 2011, chính thức vượt qua tỷ trọng dư nợ ngắn hạn (chiếm 49.78%). Quy chế cho vay theo Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN và Nghị định 178/1999/NĐ-CP đã từng bước mở rộng đối tượng vay vốn ra khu vực kinh tế tư nhân và dự án đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, tiến trình tự do hóa lãi suất mang tính chất thăng trầm, chịu ảnh hưởng từ bất ổn vĩ mô. Sau khi áp dụng thành công lãi suất thỏa thuận trong tín dụng thương mại vào tháng 5 năm 2002 theo Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN, cú sốc lạm phát năm 2008 buộc cơ quan điều hành tái lập trần 150% lãi suất cơ bản qua Quyết định 18/2008/QĐ-NHNN. Phải đến tháng 4 năm 2010, Thông tư 12/2010/TT-NHNN mới tái khởi động cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các dự án sản xuất kinh doanh trung dài hạn.

Thứ tư, dòng vốn nước ngoài có sự biến động khó lường tác động tiêu cực đến cán cân thanh toán. Vốn FDI đăng ký đạt đỉnh 72 tỷ USD năm 2008 nhưng sụt giảm 73.6% xuống còn 19 tỷ USD vào năm 2010, kéo theo 5 tháng đầu năm 2011 chỉ đạt 4.7 tỷ USD (giảm 48% so với cùng kỳ). Cán cân vãng lai rơi vào thâm hụt nghiêm trọng -11.84% GDP năm 2008 trước khi phục hồi về mức -7.66% GDP vào năm 2009.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững bắt nguồn từ việc Việt Nam triển khai tự do hóa tín dụng và mở cửa tài khoản vốn trong bối cảnh các định chế giám sát chưa hoàn thiện. Dữ liệu thực nghiệm được trình bày qua các bảng tổng hợp và biểu đồ thị phần trong luận văn (Bảng 2.3 về hoạt động tín dụng và Bảng 2.4 về huy động vốn) phản ánh rõ nét hiện tượng khối ngân hàng ngoài quốc doanh vượt lên đạt 1,351.9 nghìn tỷ đồng dư nợ năm 2011, cao hơn mức 1,288.5 nghìn tỷ đồng của khối quốc doanh.

Sự thay đổi này khẳng định tính ưu việt của cạnh tranh tự do, song việc duy trì cơ chế bao cấp ngầm cho các doanh nghiệp nhà nước (từng chiếm trên 75% lượng tín dụng năm 1998 và duy trì các khoản vay không cần tài sản thế chấp theo văn bản 417/CV-NH14) đã tạo ra sự bất bình đẳng lớn. Bài học này hoàn toàn tương đồng với khủng hoảng tài chính Thái Lan 1997 khi thành lập BIBF năm 1993 để tự do hóa dòng vốn nhưng thiếu kiểm soát nợ vay ngoại tệ ngắn hạn, cho thấy mở cửa tài chính bắt buộc phải đi liền với kỷ luật thị trường nghiêm ngặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy nhanh tiến trình tự do hóa tài chính đi đôi với ngăn ngừa rủi ro vĩ mô, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện chính sách lãi suất và cơ chế tỷ giá linh hoạt: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bãi bỏ triệt để các biện pháp áp trần lãi suất hành chính, chuyển giao quyền quyết định giá vốn cho thị trường tiền tệ. Cơ quan điều hành cần sử dụng thuần thục các công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và lãi suất tái cấp vốn. Target metric: Duy trì lãi suất thực dương ổn định ở mức 2.0% - 3.0%/năm và hạ tỷ lệ đô la hóa tiền gửi xuống dưới 15% tổng phương tiện thanh toán. Timeline: Hoàn thành trong giai đoạn 2012-2015.

  2. Tái cơ cấu và lành mạnh hóa các ngân hàng thương mại: Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng phối hợp với các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tăng vốn điều lệ, xử lý dứt điểm nợ xấu, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế cho vay chỉ định không thế chấp đối với doanh nghiệp nhà nước. Target metric: Nâng hệ số an toàn vốn (CAR) đạt chuẩn Basel II trên 8.0% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3.0% tổng dư nợ. Timeline: Thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2016-2020.

  3. Phát triển chiều sâu thị trường chứng khoán và các công cụ phái sinh: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính cần hoàn thiện khung pháp lý để nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết vượt mức 49%, đồng thời đưa vào vận hành các sản phẩm chứng khoán phái sinh như hợp đồng tương lai chỉ số và hợp đồng quyền chọn. Target metric: Đưa quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt trên 50% GDP. Timeline: Triển khai từ năm 2013, hoàn thiện năm 2018.

  4. Kiểm soát an toàn dòng vốn và tài khoản vốn quốc tế: Chính phủ và Bộ Tài chính cần thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài ngắn hạn của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, xây dựng quỹ bình ổn tỷ giá và phòng ngừa rút vốn đột ngột. Target metric: Giữ mức thâm hụt cán cân vãng lai ổn định dưới 4.0% - 5.0% GDP, tiến tới hoàn tất tự do hóa tài khoản vốn toàn diện vào giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Tiếp cận luận cứ khoa học để thiết kế trình tự mở cửa thị trường tài chính 3 giai đoạn (2012-2025), kiểm soát chỉ số vĩ mô và xây dựng cơ chế điều hành lãi suất thỏa thuận hiệu quả.
  • Lãnh đạo cấp cao và chuyên gia quản trị rủi ro tại các Ngân hàng thương mại: Sử dụng dữ liệu phân tích biến động thị phần huy động (từ 74.2% quốc doanh xuống 45.9%) để định hình chiến lược cạnh tranh sản phẩm tín dụng và quản trị rủi ro thanh khoản trước sức ép từ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
  • Chuyên gia phân tích đầu tư tại các Quỹ đầu tư và Công ty chứng khoán: Nắm bắt quy luật chu chuyển của dòng vốn FDI/FII, tác động của thâm hụt cán cân vãng lai đến tỷ giá hối đoái và xu hướng phát triển của thị trường vốn phái sinh tại Việt Nam.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng: Khai thác mô hình lý thuyết McKinnon-Shaw, bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Thái Lan và chuỗi số liệu tài chính 2001-2011 phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tự do hóa tài chính là gì và bao gồm các khía cạnh cơ bản nào? Theo Johnston và Sundararajan, tự do hóa tài chính là tập hợp các cải cách nhằm bãi bỏ sự can thiệp hành chính của nhà nước, chuyển hệ thống tài chính vận hành theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của pháp luật. Nội dung cốt lõi gồm: tự do hóa lãi suất, tự do hóa phân bổ tín dụng, tự do hóa dịch vụ tài chính và tự do hóa tài khoản vốn.

Tại sao kiểm soát tài khóa phải đi trước tự do hóa tài chính? Theo lý thuyết của Ronald McKinnon, nếu thâm hụt ngân sách nhà nước quá lớn, chính phủ thường buộc Ngân hàng Trung ương phát hành tiền tài trợ, gây ra lạm phát cao. Lạm phát làm lãi suất thực âm, triệt tiêu động lực gửi tiết kiệm của dân cư và làm tê liệt hệ thống tài chính. Do đó, ổn định tài khóa là tiền đề bắt buộc trước khi mở cửa thị trường vốn.

Hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam trước năm 2011 có hạn chế gì? Doanh nghiệp nhà nước từng nhận trên 75% tổng lượng tín dụng và được hưởng ưu đãi vay vốn không cần tài sản thế chấp theo văn bản 417/CV-NH14. Tình trạng này tạo ra sự bất bình đẳng với khu vực tư nhân, dẫn đến phân bổ sai lệch dòng vốn vào các dự án kém hiệu quả và đe dọa trực tiếp đến an toàn thanh khoản ngân hàng.

Thị phần huy động vốn giữa ngân hàng quốc doanh và cổ phần biến động ra sao giai đoạn 2005-2011? Giai đoạn 2005-2011 đánh dấu sự thu hẹp mạnh mẽ của khối ngân hàng thương mại quốc doanh từ 74.2% xuống còn 45.9% thị phần huy động. Ngược lại, khối ngân hàng thương mại cổ phần tăng trưởng vượt bậc từ 17.8% lên 43.2%, với tổng lượng tiền gửi huy động đạt 1,391.8 nghìn tỷ đồng vào năm 2011.

Lộ trình tự do hóa tài chính tại Việt Nam được phân kỳ như thế nào? Luận văn đề xuất lộ trình gồm 3 giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn 2012-2015 tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãi suất thị trường và lành mạnh hóa tài chính; Giai đoạn 2016-2020 đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng và phát triển thị trường chứng khoán; Giai đoạn 2021-2025 hoàn tất mở cửa tài khoản vốn và hội nhập tài chính toàn diện.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết kìm hãm tài chính McKinnon-Shaw và bài học cải cách thực tiễn từ Trung Quốc, Thái Lan và Nhật Bản.
  • Phân tích chi tiết chuỗi dữ liệu thực nghiệm 2001-2011, làm rõ sự tăng trưởng quy mô tín dụng đạt 2,640.4 nghìn tỷ đồng và sự dịch chuyển thị phần sang khối ngân hàng cổ phần.
  • Chỉ rõ những tồn tại về cơ chế trần lãi suất hành chính, tình trạng bao cấp tín dụng cho khu vực doanh nghiệp nhà nước và rủi ro thâm hụt vãng lai -11.84% GDP.
  • Hoạch định lộ trình tự do hóa tài chính 3 giai đoạn (2012-2025) bảo đảm tính thận trọng và phù hợp với năng lực hấp thụ của nền kinh tế.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa điều hành vĩ mô, tái cấu trúc định chế trung gian và phát triển thị trường vốn quốc tế.

Đóng góp lớn nhất của luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Kim Đại tại Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc thực thi tự do hóa tài chính trong điều kiện hội nhập WTO. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý khẩn trương hoàn thiện thể chế giám sát an toàn vĩ mô giai đoạn 2012-2015. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn công trình để khai thác trọn vẹn kho tàng dữ liệu thực nghiệm và hệ thống giải pháp tài chính giá trị này.