CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỰC TIỄN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2011) nhận định rằng nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành dựa trên cơ sở các cá nhân hay chính thức người lao động trong công ty nắm giữ/ có những vai trò khác nhau và được liên kế với nhau theo những mục tiêu nhất định mà tổ chức đó đã đề ra nhằm hướng tới mục tiêu chung của tổ chức. Mặt khác, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng nguồn nhân lực là tập hợp của các nguồn lực trí lực và thể lực của mỗi con người hay của mỗi nhận viên trong tổ chức.
Trong đó, bất kì sự khai thác của con người về các tiềm năng của trí lực vẫn còn ở mức mới mẻ và vô tận, trí lực được xem là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người trong tổ chức. Từ các nghiên cứu trên, tác giả nhận định nguồn nhân lực chính là một trong những nguồn lực giới hạn và quan trọng của một tổ chức liên quan đến con người. Hay nói cách khác, nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người của tổ chức luôn sở hữu những khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình đóng góp và phát triển tổ chức song hành với sự phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia. Có thể nói, nguồn nhân lực là nguồn tổng hợp các nguồn lực đến từ các yếu tố vật chất và tinh thần, góp phần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức.
Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Được xem là một trong những khái niệm nền tảng trong hệ thống trị hiện đại, Quản trị nguồn nhân lực được nhận định sẽ tạo ra và cung cấp cho tổ chức những lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, quản trị nguồn nhận lực được xem là công tác quản trị nguồn tài sản có giá trị nhất của một tổ chức. Tại tổ chức đó, các cá nhân và 8 tập thể đã và đang làm việc ở đó, đóng góp mạnh mẽ vào việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức đó (Armstrong, 2009). Thêm vào đó, quản trị nguồn nhân lực còn được sử dụng để thay đổi thái độ và hành vi của nhân viên đối với tổ chức đó, điều này có thể dẫn đến sự thay đổi hiệu quả của một tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề lien quan đến việc quản trị con người trong tổ chức và luôn hướng đến việc đạt được cái mục tiêu chung của tổ chức. Theo Trần Kim Dung (2016) nhận định quản trị nguồn nhân lực chính là tập hợp một hệ thống các triết lý, chính sách và các hoạt động chức năng liên quan đến việc thu hút, tuyển mộ, đào tạo – phát triển và duy trì nguồn lực con người của một tổ chức nhằm đạt được kêt quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Đồng thời, có hai mục tiêu cơ bản của việc quản trị nguồn nhân lực, bao gồm: (1) Sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực hữu hạn nhằm tăng năng xuất lao động của người lao động và tính hiệu quả của tổ chức; (2) Đối với nhu cầu ngày một càng cao của nhân viên, việc đáp ứng này phải tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa năng lực cá nhân, được động viên, khuyến khích nhiều nhất tại nơi làm việc cũng như tận tâm và trung thành với doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Kokkaew, N.
(2012) để tối đa hóa hiệu quả quản trị nguồn nhân lực, tổ chức cần phải phối hợp chặc chẽ các hoạt động, bao gồm: (1) chiến lược quản trị nguồn nhân lực, (2) phân tích công việc, (3) tuyển dụng và tuyển mộ, (4) đào tạo và phát triển, (5) phát triển sự nghiệp, (6) quản trị hiệu quả công việc (performance management), (7) lương thưởng và phúc lợi, (8) kỷ luật, và (9) an toàn và sức khỏe. Để thực hiện thành công các hoạt động quản trị nguồn nhân lực này, cần phải có sự liên kết chặc chẽ giữa các quy trì quản trị nguồn nhân lực và các chiến lược cấp tổ chức. Từ kết quả của các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, tác giả nhận định quản trị nguồn nhân lực chính là việc thực hiện các chức năng của quản trị nhằm đảm bảo hiệu 9 quả sử dụng tài năng của con người trong tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức đã đề ra và phù hợp với những định hướng chiến lược của tổ chức. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Các nguồn lực hữu hạn trong doanh nghiệp có thể chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình.
Các nguồn lực hữu hình được nhận định là các nguồn lực có thể thấy được và định lượng được, bao gồm nguồn lực tài chính, tổ chức, các điều kiện vật chất, và công nghệ. Các nguồn vô hình bao gồm nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng. Trong đó nguồn lực quan trọng trong doanh nghiệp là nhân lực. Vì con người là yếu tố cấu thành doanh nghiệp; vận hành doanh nghiệp cũng do con người và sự thắng bại của doanh nghiệp cũng chính là do con người.
Theo Trần Kim Dung (2011) cho rằng vai trò của quản trị nhân lực trong tổ chức nhằm đảm bảo cho nguồn nhân lực của tổ chức được quản lý và sử dụng có hiệu quả nhất. Thông qua việc tổ chức bộ phận quản trị nguồn nhân lực, đảm nhận các vai trò quan trọng trong tổ chức như: (1) thiết lập chiến lược, chính sách nhân sự, (2) thực hiện hoặc phối hợp với các phòng ban khác trong tổ chức cùng thực hiện các chức năng liên quan đến quản trị nguồn nhân lực bao gồm: (i) chức năng thu hút nguồn nhân lực; (ii) chức năng đào tạo và phát triển; (iii) chức năng duy trì nguồn nhân lực; (3) tham mưu, cố vấn cho bộ phận quản lý các kỹ năng và cách thức thực hiện các chức năng của quản trị nguồn nhân lực tại tổ chức, (4) phối hợp với các phòng ban liên quan, thực hiện kiểm tra và giảm sát tính hình thực hiện các chức năng quản trị nguồn nhân lực trong toàn tổ chức. Chức năng quản trị nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2011), hoạt động quản trị nguồn nhân lực có mối liên quan mật thiết đến tất cả các vấn đề xung quanh người lao động tại tổ chức như quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm hướng đến mục tiêu đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Các hoạt động này rất phong phú, đa dạng và phụ thuộc 10 vào từng hoàn cảnh và điều kiện khác nhau của các tổ chức khác do.
Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực theo 03 nhóm chức năng chủ yếu như: (1) nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực; (2) Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (3) Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực. Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này tập trung vào việc chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất và kỹ năng phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức (Trần Kim Dung, 2011). Thực hiện phân tích công việc và lập kế hoạch nguồn nhân lực sẽ cho biết tổ chức cần tuyển thêm bao nhiêu cầu, thông qua yêu cầu công việc sẽ đạt ra các tiêu chuẩn cho từng ứng viên trước khi qua giai đoạn sàn lọc, tuyển dụng để trở thành người lao động chính thức của tổ chức. Do vậy, nhóm chức năng này thường bao gồm các hoạt động như dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, cũng như việc thu thập, lưu trữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2011), nhóm chức năng này tập trung vào việc nâng cao năng lực của nhân viên, phối hợp các hoạt động liên quan đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của tổ chức với mục tiêu đảm bảo cho nhân viên, người lao động có các kỹ năng và trình độ cần thiết theo yêu cầu công việc để hoàn thành tốt và hiệu quả các công việc, nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nhóm chức năng này còn chú trọng đến việc tạo điều kiện, cung cấp những cơ hội để người lao động được phát triển tối đa các năng lực cá nhân của mình. Đối với nhân viên, người lao động mới tại tổ chức, thực hiện nhóm chức năng này nhằm khuyến khích người lao động phát huy tối đa những kỹ năng hiện tại của bản thân, gắn bó với tổ chức, mặt khác, giúp các nhà quản lý xác định năng lực thật tế của nhân viên và giúp người lao động nhanh chống làm quen với công việc và môi trường của tổ chức. Đứng trước sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh cũng 11 như sự thay đổi về quy trình công nghệ, kỹ thuật các tổ chức thực hiện các hoạt động trong nhóm chức năng này như đào tạo, huấn luyện và đào tạo lại để cập nhật, cung cấp mới những kỹ năng, kiến thức cần thiết cho người lao động để nhanh chống thích nghi và hòa nhập với thay đổi trên của tổ chức.
Các hoạt động của doanh nghiệp trong nhóm chức năng này thường liên quan đến các hoạt động như hướng nghiện, đào tạo kiến thức và huấn luyện các kỹ năng thực hành cho người lao động, bồi dưỡng và nâng cao trình độ lành nghề của người lao động cũng như các kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho các bộ phận nghiệp vụ. Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực Bằng việc chú trong đến các hoạt động duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Theo Trần Kim Dung (2011), nhóm chức năng bao gồm hai chức năng nhỏ hơn và có liên hệ mật thiết với nhau bao gồm: (1) chức năng kích thích, động viên nhân viên, (2) chức năng duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp.