CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH ĐIỆN LỰC 1. Tổng quan về nhân lực và nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực 1. Nhân lực Nhân lực là tất cả những khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động, sản xuất.
Nhân lực cũng được hiểu là sức lao động của con người – một nguồn lực quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức.Mác cho rằng: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng ta sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng ta sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Ăng-ghen, 2004) Chính những đòi hỏi đó trong điều kiện các nguồn lực khác có hạn đã thúc đẩy người lao động (NLĐ) không ngừng nâng cao khả năng lao động sáng tạo của mình để sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ mới đạt chất lượng cao. Với quan điểm đó, Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động.” (Lênin, 1979) Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta phải hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta.” (Hồ Chí Minh, 1996) Khi đặt con người là nhân tố trung tâm của sự phát triển, Người cũng nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa.” (Hồ Chí Minh, 1996) Ngoài ra, nhân lực cũng liên quan đến hai yếu tố quan trọng là số lượng và chất lượng.
Về số lượng, nhân lực là tổng số những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc mà họ có thể huy động vào quá trình lao động, sản xuất; còn về chất lượng, nhân lực thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của NLĐ. 6 Theo Trần Xuân Cầu (2008), nhân lực là sức lực con người, tồn tại trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó cùng với cơ thể con người phát triển đến một mức độ nào đó thì con người đạt các tiêu chuẩn và quy định tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động. Từ các quan điểm nêu trên, tác giả đi đến một cách hiểu thống nhất về nhân lực như sau: Nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng một nền tảng kiến thức, kỹ năng; tiêu chuẩn hành vi ứng xử và giá trị đạo đức cơ bản của họ để cùng nhau hình thành, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội.
Nguồn nhân lực Với nền tảng khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực (NNL) là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Cho đến nay đã có nhiều nhận định khác nhau về nguồn lực con người. NNL là tất cả những tiềm năng của con người gồm có thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ tham gia vào quá trình lao động, sản xuất trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực.
NNL là số lượng người trong độ tuổi lao động đủ điều kiện tham gia lao động. Chất lượng NNL (bao gồm các yếu tố cơ bản như trình độ chuyên môn, kiến thức, thể chất, kỹ năng, thái độ làm việc,…) được phản ánh thông qua năng lực xã hội của con người. Tiềm năng NNL là sự kết hợp của tất cả các mặt trí lực, thể lực, phẩm cách, nhân cách… của NLĐ. Thể lực được hiểu là sức khỏe của mỗi cơ thể con người.
Nó phụ thuộc vào một số nội dung như sức vóc, tình trạng sức khỏe, mức thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…. Bên cạnh đó, trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL; tuy nhiên, trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy tối đa sức mạnh của nó trên nền tảng thể lực khoẻ 7 mạnh. Vì vậy, chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng NNL, tạo tiền đề phát huy hiệu quả tiềm năng của con người. Trí lực được xem như năng lực suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người.
Tiềm năng về trí lực của con người mới chưa bao giờ cạn kiệt và là kho tàng đang chứa đựng nhiều bí ẩn của mỗi con người. Trí lực còn là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những hoạt động thúc đẩy con người hành động phải thông qua đầu óc của mỗi cá nhân. Do đó, việc khai thác và phát huy tiềm năng trí lực trở thành yêu cầu cấp thiết trong việc phát huy nguồn lực con người. Chính vì thế, NNL trong tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, vừa là động lực vừa là mục tiêu cho sự phát triển của tổ chức, là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của một doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Lê Hữu Tầng (1991 – 1995) trong chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX - 07 thì “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc.” Cùng quan điểm đánh giá về tiềm năng và chất lượng của NNL, Phạm Minh Hạc (2001) cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động bao gồm thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế xã hội nhất định. Có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai.” Khái niệm này có những đặc điểm chung với quan điểm của Lê Hữu Tầng khi xét về phương diện tiềm năng của lao động dựa trên các đặc điểm thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách con người. Nghiên cứu của Bùi Văn Nhơn “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” (2006) thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương.” Như vậy, phân tích theo các góc độ khác nhau, có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm đã được đề cập đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội. Con người với tư cách là yếu tố hình 8 thành nên lực lượng sản xuất, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển kinh tế - xã hội nên không chỉ nhìn nhận con người ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự kết hợp hài hòa của cả hai yếu tố cơ bản, số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà còn là các thế hệ con người hội tụ đầy đủ tiềm năng, sức mạnh tham gia vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội.
Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Quản trị NNL là sự kết hợp các yếu tố như triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì nguồn lực con người của một tổ chức nhằm đạt được hiệu quả lao động, sản xuất cao nhất cho cả tổ chức và nhân viên. Theo cách nhìn khác, quản trị NNL vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của nhân viên đạt được mục tiêu. Quản trị NNL còn là những hoạt động mà người quản trị tiến hành sắp xếp nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của cơ quan. Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động và tinh giản biên chế.
Theo Nguyễn Vân Điềm (2010), khái niệm quản trị nhân lực có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: Quản trị NNL là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức, bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ huy, kiểm tra và giám sát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, và phát triển nguồn lực con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Hay hiểu theo góc độ khác, quản trị NNL là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp đầy đủ các trang thiết bị cho nguồn nhân lực thông qua tổ chức của nó. Nhưng nhìn chung, khái niệm về quản trị NNL vẫn là hệ thống các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, duy trì và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với tính chất và yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và không ngừng phát triển, nhà quản trị nhân sự cần nắm vững và thoả mãn được bốn mục tiêu cơ bản sau đây: Mục tiêu xã hội 9 Doanh nghiệp phải đáp ứng được những yêu cầu và những đòi hỏi của xã hội. Doanh nghiệp không chỉ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận mà nó còn phải quan tâm đến các lợi ích của xã hội.
Mục tiêu của toàn tổ chức Nhà quản trị có trách nhiệm phải nghiên cứu và đưa ra cách thức làm thế nào để một tổ chức hoạt động có hiệu quả. Mục tiêu của quản trị NNL là làm sao để thực hiện được các mục tiêu chung do tổ chức đặt ra đạt kết quả tối ưu. Quản trị NNL là một phương tiện hữu ích nhằm giúp tổ chức đạt được các mục tiêu của mình. Mục tiêu của các bộ phận chức năng Mỗi phòng ban đều có chức năng và nhiệm vụ riêng.
Vì vậy, mỗi đơn vị không chỉ phải có trách nhiệm đóng góp phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu của toàn tổ chức mà những mục tiêu của bộ phận chức năng này đề ra cũng phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức.