Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: Tổng quan về phần mềm PSS/ADEPT 5. Chương 3: Nghiên cứu phương thức vận hành lưới điện phân phối huyện Tịnh Biên. Chương 4: Kết luận và hướng nghiên cứu phát triển Tài liệu tham khảo HVTH: Phạm Trần Cao Minh Trang 3/84 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Quyền Huy Ánh Chƣơng I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổn thất điện năng 1.1 Khái niệm chung Tổn thất điện năng (TTĐN) trong hệ thống điện (HTĐ) nói chung là chênh lệch giữa lượng điện năng sản xuất từ nguồn điện và lượng điện năng được tiêu thụ tại phụ tải trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thị trường điện, TTĐN trên một lưới điện là sự chênh lệch giữa lượng điện năng đi vào lưới điện (bao gồm từ các nguồn điện và từ các lưới điện lân cận) và lượng điện năng đi ra khỏi lưới điện (bao gồm cấp cho phụ tải của lưới điện đó hoặc đi sang các khu vực lưới điện lân cận) trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian xác định TTĐN thường là một ngày, một tháng hoặc một năm tùy thuộc mục đích hoặc công cụ xác định TTĐN. TT trên một phần tử có thể xác định bằng cách đo lường hoặc tính toán như sau: ∫ () (1.1) Trong đó: ( ) là hàm theo thời gian của tổn thất công suất trên phần tử; là TTĐN trên phần tử trong thời gian.2 Phân loại Theo phạm vi quản lý có TTĐN trên lưới điện truyền tải và TTĐN trên lưới điện phân phối.
Tỉ lệ TTĐN trong HTĐ chủ yếu ở lưới điện phân phối. Theo quan điểm kinh doanh điện, TTĐN trên HTĐ được phân thành hai loại là TTĐN kỹ thuật và TTĐN phi kỹ thuật. TTĐN kỹ thuật: là TTĐN do tính chất vật lý của quá trình tải điện năng gây ra. Loại tổn thất này không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế ở mức độ hợp lý.
Có hai loại tổn thất kỹ thuật như sau - TTĐN phụ thuộc vào dòng điện: là tổn thất do phát nóng trong các phần tử có tải dòng điện, phụ thuộc vào cường độ dòng điện và điện trở tác dụng HVTH: Phạm Trần Cao Minh Trang 4/84 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh của phần tử. Có thể xem đây là tổn thất dọc. Đây là thành phần chính được tính đến trong TTĐN kỹ thuật.
- TTĐN phụ thuộc vào điện áp: bao gồm tổn thất không tải của máy biến áp (MBA), tổn thất vầng quang điện, tổn thất do rò điện (cách điện không tốt), tổn thất trong mạch từ của các thiết bị đo lường.Đây có thể xem là tổn thất ngang. - TTĐN do chất lượng điện năng. - TTĐN do thiết kế và vận hành hệ thống điện. TTĐN phi kỹ thuật: là lượng TTĐN trên HTĐ không liên quan đến tính chất vật lý của quá trình tải điện năng.
Nguyên nhân là do vấn đề quản lý HTĐ. Bởi vậy, không thể giải quyết bằng các biện pháp kỹ thuật mà chỉ có thể dùng các biện pháp quản lý trong kinh doanh. Một số trường hợp có thể phân loại để xác định TTĐN ở khâu nào, từ đó có biện pháp xử lý. Ví dụ TTĐN do không được đo, điện năng không được vào hóa đơn, không được trả tiền hoặc chậm trả tiền.TTĐN thương mại chủ yếu xảy ra ở lưới điện phân phối.3 Xác định tổn thất điện năng Nhìn chung, không có cách xác định chính xác TTĐN.
Có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là vì thiếu thông tin do hệ thống đo lường chưa đầy đủ và đồng bộ, số liệu về lưới điện và phụ tải không chính xác.Bởi vậy, thực chất việc xác định TTĐN đúng là đánh giá hoặc dự báo TTĐN. Trên lưới điện truyền tải, hệ thống thông tin và tự động hóa thường phải đầy đủ để đảm bảo mục tiêu quản lý vận hành an toàn, tối ưu. Cũng nhờ đó, việc đ lường và đánh giá TTĐN chính xác hơn. Đối với lưới điện phân phối, các hệ thống thông tin đo lường, giám sát nhìn chung đơn giản, trong khi khối lượng, chủng loại thiết bị đa dạng, nên việc đánh giá chính xác TTĐN khó khăn hơn nhiều.
Bởi vì TTĐN trong HTĐ chủ yếu nằm ở lưới điện phân phối, nên việc yêu cầu xác định TTĐN chủ yếu đặt ra đối với lưới phân phối là. TTĐN trong lưới điện phân phối nhỏ hơn 10% được coi là chấp nhận được. Nếu TTĐN trên 15% tức là tỷ lệ TTĐN phi kỹ thuật là đáng kể, khi đó cần tính toán thành phần TTĐN kỹ thuật để đánh giá mức độ tổn thất phi kỹ thuật. Bên cạch đó việc xác định TTĐN cũng sẽ HVTH: Phạm Trần Cao Minh Trang 5/84 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
Quyền Huy Ánh cho một bức tranh chung về TTĐN giữa các bộ phận lưới điện và các khu vực phụ tải để từ đó có thể đề xuất các giải pháp giảm TTĐN một cách hiệu quả trên lưới điện.4 Nguyên nhân của tổn thất điện năng 1. Tổn thất điện năng phụ thuộc dòng điện Tất cả các phần tử tham gia tải trực tiếp dòng điện trong HTĐ đều có TTĐN do phát nhiệt trên điện trở của phần tử đó. Các phần tử có tổn thất do phát nhiệt trên HTĐ bao gồm: - Điện trở của các đường dây tải điện, dây dẫn pha, dây trung tính, dây chống sét và dây nối đất. Dây trung tính sẽ gây tổn thất nếu tồn tại dòng trên dây trung tính.
Dây chống sét nằm trong điện từ trường của các dây dẫn pha nên cũng có xuất hiện dòng điện cảm ứng và tổn thất điện trở dây chống sét và điện trở nối đất. - Điện trở cuộn dây trong các MBA lực. - Điện trở cuộn dây của các máy điện quay - Điện trở tiếp xúc của các tiếp điểm trong các thiết bị đóng cắt mạch điện. - Điện trở tiếp xúc của các mối nối trong mạch điện.
- Các điện trở nhỏ khác như thanh góp, cuộn dây các máy biến áp đo lường, các mạch tụ bù CSPK. Tổn thất điện năng phụ thuộc điện áp Tổn thất do vầng quang điện: do hiện tượng phóng điện vầng quang trên đường dây trên không, dây dẫn trần. Hiện tượng Vầng quang là quá trình i-on hóa các phần tử khí gần đường dây tải điện cao áp. Tổn thất trong lõi thép máy biến áp: Khi một điện áp xoay chiều được đặt lên một cuộn dây MBA, một từ thông xoay chiều được cảm ứng trong lõi thép.
Từ thông xoay chiều này gây ra hiện tượng trễ từ (hysteresis) và dòng điện xoáy (Eddy Current) trong lõi thép và do đó gây phát nóng lõi thép. Việc phát nóng lõi thép gây HVTH: Phạm Trần Cao Minh Trang 6/84 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh tổn thất không tải (hay còn gọi là tổn thất sắt) vì nó không phụ thuộc vào lượng công suất tải qua MBA. Tổn thất điện năng do chất lƣợng điện năng Tổn thất do không đối xứng: Hiện tượng không đối xứng là hiện tượng trong đó điện áp và dòng điện xoay chiều ba pha của hệ thống điện không tạo thành một hệ thống ba pha đối xứng.
Có nhiều nguyên nhân gây mất đối xứng như về nguồn, về tải, đặc biệt khí có sự cố ngắn mạch, đứt dây.hệ thống trở nên mất đối xứng, mất cân bằng. Sự mất đối xứng, mất cân bằng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng điện năng như điện áp các pha không bằng nhau, xuất hiện các sóng hài, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của thiết bị và làm tăng tổn thất điện năng trong hệ thống điện. Tổn thất do biến dạng sóng: Hiện tượng biến dạng sóng (waveform distortion) xuất hiện trong HTĐ do rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do các phụ tải phi tuyến sinh ra. Tác động của sóng hài làm phát nóng máy biến áp, phát nóng máy điện quay, phát nóng đường dây các nguyên nhân trên đều làm tăng tổn thất.
Tổn thất điện năng do thiết kế vận hành hệ thống điện Ngoài những nguyên nhân trên, theo khía cạnh quản lý hệ thống điện còn có một số nguyên nhân khác củng làm gia tăng thêm tổn thất điện năng chung của cả HTĐ. Các nguyên nhân xuất phát từ những bất hợp lý trong quản lý HTĐ từ khâu quy hoạch, thiết kế đến khâu vận hành HTĐ. Những bất hợp lý gây tăng TTĐN bao gồm: + Trong quy hoạch và thiết kế hệ thống điện. - Dự báo thiếu chính xác nhu cầu phụ tải dẫn đến thiết kế lưới điện không hợp lý (tiết diện dây dẫn, số lượng và công suất MBA).
Lưới điện bị quá tải là do đánh giá thấp nhu cầu điện năng. Ngược lại, lưới điện non tải là do đánh giá cao nhu cầu dùng điện. Tiết diện dây nhỏ sẽ tăng điện trở và do đó tăng tổn thất. Nhiều cấp điện áp sẽ cần nhiều MBA và làm gia tăng tổn thất không tải.
- Phân bố nguồn không hợp lý dẫn đến tăng khoảng cách truyền tải. HVTH: Phạm Trần Cao Minh Trang 7/84 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. Quyền Huy Ánh - Chọn điện áp vận hành thấp so với yêu cầu cung cấp công suất phụ tải từ khi thiết kế HTĐ sẽ làm tăng đáng kể TTĐN trên lưới điện. + Trong vận hành HTĐ.
- Quản lý nhu cầu điện năng (DSM): Mục tiêu của DSM là sử dụng hiệu quả và tiết kiệm điện năng lượng. Các chương trình và giải pháp DSM có thể thực hiện từ khâu quy hoạch cho đến quản lý vận hành HTĐ. Việc thiếu các biện pháp DSM sẽ gây ra hậu quả là đồ thị phụ tải (ĐTPT) không bằng phẳng. Do đó ngoài các vấn đề kinh tế - kỹ thuật gặp phải trong quản lý vận hành lưới điện, ĐTPT không bằng phẳng cũng có nguy cơ làm gia tăng TTĐN, tăng tổn thất không tải ở thấp điểm và quá tải lưới điện ở cao điểm.
- Phân bố công suất không hợp lý trên lưới điện: Sẽ làm tăng TTĐN của lưới điện. Phụ tải thay đổi liên tục theo ĐTPT trong quá trình sử dụng điện. Ứng với mỗi trạng thái phụ tải HTĐ, có thể thay đổi trạng thái của các thiết bị đóng cắt trên lưới điện để đạt được một dạng sơ đồ lưới điện cho tổn thất công suất thấp nhất. - Chế độ cung cấp công suất phản kháng không hợp lý: Đối với các phụ tải tiêu thụ nhiều công suất phản kháng (CSPK), việc quản lý vận hành cac thiết bị dùng điện khong hợp lý có thể dẫn đến hệ số công suất cosφ thấp, nhu cầu CSPK lớn tác động lên lưới cung cấp cho phụ tải làm tăng TTĐN trên lưới điện.