CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 1. Cơ sở lý luận về tài sản ngắn hạn 1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là bộ phận thiết yếu, mang ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại. Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được phân bổ đủ trong các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
Tài sản ngắn hạn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Trần Ngọc Thơ (2005) thì tài sản ngắn hạn được hiểu là: “Tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn (bao gồm chứng khoán thị trường), các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác”. Nguyễn Năng Phúc (2013) định nghĩa tài sản ngắn như sau: “Một tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản này được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của một chu kỳ kinh doanh hình thường; hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hay cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ; hoặc là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào”. Lê Thị Xuân (2015) cũng đưa ra quan điểm về tài sản ngắn hạn: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian luân chuyển và thu hồi dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.” Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu.
Tuy là yếu tố tồn tại trong ngắn hạn, nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động và sản xuất kinh doanh của Công ty. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Lê Thị Xuân (2015) cho rằng tài sản ngắn hạn gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh, đối với các doanh nghiệp sản xuất hình thái tài sản ngắn hạn: T-H- SX-H’-T’, đối với các doanh nghiệp thương mại hình thái tài sản ngắn hạn: T-H-T’. Thứ hai, giá trị tài sản ngắn hạn được chuyển dịch toàn bộ một lần vào mỗi chu kỳ kinh doanh.
Thứ ba, tài sản ngắn hạn hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn.
Thứ tư, toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh b. Phân loại tài sản ngắn hạn Công tác quản lý tài sản ngắn hạn muốn tiến hành khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của tài sản ngắn hạn, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2015) cũng đưa ra hai tiêu thức để phân loại tài sản ngắn hạn: phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của TSNH đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Thứ nhất, phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn 8 Theo tiêu thức này tài sản ngắn hạn được chia thành tiền, các khoản phải thu (gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu…); hàng tồn kho (bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp đánh giá được mức độ dự trữ tồn kho, khả năng thanh toán , tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong doanh nghiệp. Thứ hai, phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn. Theo tiêu thức này, TSNH được chia thành TSNH trong khâu dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất); TSNH trong khâu sản xuất (gồm bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước) và TSNH trong khâu lưu thông (gồm tiền, thành phẩm, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu). Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại TSNH trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vai trò của tài sản ngắn hạn Nghiên cứu của Lê Thị Xuân (2015) về tài sản ngắn hạn đã chỉ ra một số vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, tài sản ngắn hạn là điều kiện vật chất không thể thiếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục. Trong khâu sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho các công đoạn diễn ra nhịp nhàng. Trong khâu lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm, hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường một cách liên tục, không gián đoạn. Từ đó giúp cho hoạt động kinh doanh được duy trì đều đặn, hiệu quả.
Thứ hai, sự vận động của tài sản ngắn hạn phản ánh tình hình mua sắm vật tư, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Thứ ba, giá trị tài sản ngắn hạn ở mỗi khâu cho biết số lượng vật tư, hàng hoá dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít. Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn phản ánh vật tư được sử dụng hiệu quả và tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không thông qua tỷ trọng tài sản ngắn hạn 9 trong từng khâu và thời gian của mỗi khâu trong quá trình kinh doanh để điều chỉnh kết cấu tài sản ngắn hạn cho hợp lý nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Chính sách quản trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Như chúng ta đã nói ở phần khái niệm, việc quản trị tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nếu không hoạch định và kiểm soát một cách thích hợp các loại tài sản ngắn hạn sẽ là một nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của doanh nghiệp. Trong số các loại tài sản ngắn hạn thì tiền mặt, các khoản phải thu và hàng tồn kho là ba bộ phận quan trọng nhất, là đối tượng chủ yếu của quản trị tài chính. Lê Thị Xuân (2015) đã trình bày rất chi tiết về các chính sách quản trị tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Chính sách quản trị tiền mặt * Sự cần thiết phải quản trị tiền mặt Tiền là một tài sản đặc biệt trong doanh nghiệp, việc quản trị tiền là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong quản trị tài chính doanh nghiệp, bởi tiền là một tài sản có thể dễ dàng chuyển hóa thành các tài sản khác, do vậy nó chính là đối tượng của sự gian lận, tham ô hoặc lạm dụng trong doanh nghiệp.
Quản lý tốt tiền mặt sẽ giúp cho doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm vật tư hàng hóa, thanh toán các khoản chi phí cần thiết… mà nếu sử dụng một loại tài sản khác có thanh khoản thấp thì có thể làm cho chi phí giao dịch cao hơn và mất nhiều thời gian hơn. Ngoài ra, quản lý tốt tiền mặt còn giúp doanh nghiệp có thể ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường và tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể thu được nhiều chiết khấu trên hàng hóa. Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc gửi tiền là cần thiết, nhưng việc giữ tiền mặt phục vụ trong kinh doanh có những lợi thế sau: - Khi mua hàng hóa dịch vụ, nếu có đủ tiền mặt, doanh nghiệp có cơ hội thu được chiếu khấu trên hàng hóa mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. 10 - Giữ đủ tiền mặt, duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và được hưởng mức tín dụng rộng rãi.
- Giữ đủ tiền mặt giúp doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong các hoạt động thanh toán chi trả. * Mục tiêu quản trị tiền mặt của doanh nghiệp Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong doanh nghiệp. Một mặt tiền giúp cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng chi trả, phòng ngừa rủi ro thanh toán, nhưng mặt khác nó lại là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lời. Việc giữ tiền ở mức độ bao nhiêu là hợp lý để vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa tránh ứ động vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp.
Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của quản trị tiền mặt là: Phải đảm bảo lượng tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp đồng thời phải tối thiểu hóa chi phí lưu giữ tiền mặt (giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời). * Nội dung quản trị tiền mặt - Thiết lập mức dự trữ tiền mặt tối ưu Khi thiết lập mức dự trữ tiền mặt cho doanh nghiệp mình, mỗi doanh nghiệp căn cứ vào quy mô kinh doanh để xác định lượng tiền mặt cần thiết phải duy trì thường xuyên nhằm đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp luôn ở trạng thái ổn định.