CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGICTICS VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Tổng quan về dịch vụ logistics 1.1 Khái niệm, phân loại dịch vụ logistics 1.1 Khái niệm dịch vụ logistics Logistics là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, song hiện nay chưa có một khái niệm (định nghĩa) chính xác về thuật ngữ này. Có nhiều quan điểm về logistics như sau: - Theo tài liệu của Liên Hợp Quốc (UNESCAP): Logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. - Theo Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển, bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. - Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng.
[14] - Trong lĩnh vực quân sự:logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch, tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị. [14] - Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vụ 6 logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” [7] Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh.
Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế. Các nhà cung Khách Nguyên cấp vận tư Trung hàng vật liệu gian thô Khách Các nhà cung Quá trình hàng cấp vận tư sản xuất Nguyên vật liệu Trung Khách thô Các nhà cung gian hàng cấp vận tư Quá trình quản lý nguyên vật liệu Quá trình phân phối LOGISTICS Hình 1.1 Dịch vụ logistics 7 Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics đều chỉ ra rằng: [9] - Logistics là quá trình mang tính hệ thống chặt chẽ và và liên tục từ điểm đầu tiên của dây truyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng. - Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục từ hoạch định quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa, thông tin, vốn.
trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm. Người ta không tập trung vào một công đoạn nhất định mà tiếp cận với cả một quá trình, chấp nhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng tổng chi phí có khuynh hướng giảm. - Logistics không chỉ liên quan đến nguyên vật liệu mà còn liên quan tới tất cả các nguồn tài nguyên, đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Đó là vật tư, vốn, nhân lực, công nghệ thông tin, chiến lược.
- Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi vào, đi ra, bên trong, bên ngoài của nguyên vật liệu thô và thành phẩm. - Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các vấn đề được đặt ra là: Vị trí- phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ.
ở đâu? khi nào? và vận chuyển đi đâu? Cấp độ thứ hai là quan tâm tới vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để vận chuyển được các yếu tố trên từ điểm xuất phát tới điểm cuối cùng của dây truyền cung ứng. Toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu qua sản xuất, lưu thông đáp ứng nhu cầu thị trường đều gắn liền với hoạt động giao nhận vận tải. Vì thế người ta cho rằng, logsitics chính là sự phát triển cao, hoàn thiện của vận 8 tải giao nhận; là sự phát triển toàn diện và khéo léo của vận tải đa phương thức. Theo đó, logistics là quá trình tối ưu hóa luồng vận động của vật chất và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hóa lợi nhuận.2 Phân loại logistics Phân loại logistics Theo cấp độ Theo quá trình Theo lĩnh vực Theo đối tượng thực hiện hàng hóa Hàng tiêu 1 PL Đầu vào Quân sự dùng nhanh 2 PL Hàng ô tô Đầu ra Sản xuất, kinh doanh, 3 PL thương mại Hàng hóa Ngược chất 4 PL Xã hội Hàng điện tử 5 PL Hàng dầu khí Hình 1.2 Phân loại Logistics * Phân loại theo cấp độ thực hiện: [14] - Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistisc): người chủ sở hữu hàng hóa tự thực hiện các hoạt động logistics của mình.
Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. - Logistics bên thứ hai (2PL- Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan .) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, ở đây chưa có sự tích hợp hoạt động logistics. 9 Thường là các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan,. - Logistics bên thứ ba ( 3PL- Third Party Logistics) hay còn được gọi là logistics theo hợp đồng.
Người cung cấp dịch vụ logistics thay mặt chủ hàng thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. Ví dụ như, thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu và vận chuyển nội địa, hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm các thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới nơi quy định, lưu kho, xử lý hàng tồn kho. Ở đây, đã thấy có sự tích hợp của nhiều hoạt động logistics. - Logistics bên thứ tư (4PL- Fourth Party Logistics) hay còn được gọi là logistics chuỗi phân phối, 4PL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của 3PL, nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn.
4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây truyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải. 4PL hướng tới quả trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thị cuối cùng. - Logistics bên thứ năm (5PL- Fifth Party Logistics) đã được nhắc đến trong những năm gần đây. Đây là hình thức phát triển cao hơn của logistics bên thứ tư đi cùng với sự phát triển của thương mại điện tử.
Với hình thức này, toàn bộ hoạt động logistics được thực hiện hoàn toàn bằng thương mại điện tử. Tối ưu hóa về mặt thời gian, chi phí. * Phân loại theo quá trình: - Logistics đầu vào (inbound logistics) bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo cung ứng một cách tối ưu (cả về vị trí, thời gian và chi phí) các đầu vào (nguyên vật liệu, vốn, thông tin …) cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Logistics đầu ra (outbound logistics) bao gồm các hoạt động đảm bảo cung ứng sản phẩm đến tay khách hàng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp.
10 - Logistics ngược (reverse logistics) bao gồm quá trình thu hồi các phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm và cả các yếu tố khác phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến môi trường để xử lý hoặc tái chế. * Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của logistics: Ngày nay, hệ thống Logistics càng có vị trí và vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất và đời sống, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau và phát triển thành 3 nhóm riêng biệt: - Hệ thống Logistics trong quân sự. - Hệ thống Logistics trong sản xuất, kinh doanh, thương mại. - Hệ thống Logistics trong quản lý xã hội.
* Phân loại theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ logistics: Theo cách phân loại này, các công ty cung cấp dịch vụ logistics được chia ra thành : - Các công ty sở hữu tài sản thực sự: có riêng đội vận tải, nhà kho … và sử dụng chúng để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động logistics cho khách hàng của mình. - Các công ty logistics không sở hữu tài sản: hoạt động như người hợp nhất các dịch vụ logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài.